TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 – 5 – 2025
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trường Hận
- Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Bùi Chí L, sinh năm 2002. Nơi thường trú: ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Nơi ở hiện tại: ấp G, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh L tự nguyện sống chung từ năm 2020, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/4/2023. Chị và anh L đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay do vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, sống chung không hợp nhau. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị và anh L có một người con chung là Bùi Gia H, sinh ngày 02/01/2023, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Bùi Chí L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị T ly hôn với anh L.
+ Về con chung: Giao cháu Bùi Gia H, sinh ngày 02/01/2023 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh L1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
+ Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh L1, anh L1 đang cư trú trên địa bàn thành phố B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị T và anh L1 là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Chị T và anh L1 tự nguyện sống chung từ năm 2020 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên hôn nhân giữa chị T và anh L1 là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên chị T và anh L1 đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị T và anh L1 không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L1 không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, như vậy anh L1 đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị T và anh L1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh L1.
[4] Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do chị L1 cung cấp và lời khai của chị L1 thì chị T và anh L1 có một người con chung là Bùi Gia H, sinh ngày 02/01/2023, hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh L1 đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị T nhưng anh L1 không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của chị T. Xét thấy, cháu H dưới 36 tháng tuổi và sống cùng với chị T từ khi ly thân đến nay, hiện cháu H phát triển tốt, chị T có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu H, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao cháu Bùi Gia H, sinh ngày 02/01/2023 cho chị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh L1 không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Bùi Chí L.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Gia H, sinh ngày 02/01/2023 cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Bùi Chí L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000143 ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển sang thu án phí. Anh Bùi Chí L không phải chịu án phí.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Ly |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với anh Bùi Chí L
