TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HNGĐ – ST
Ngày 28 - 5-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Chí;
Ông Trần Minh Lý;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2025/TLST- HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2025, về việc yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXX - ST, ngày 18 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Trúc L, sinh năm: 1992; Hộ khẩu thường trú: Tổ D, ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Số B, đường Đ, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Tổ E, ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Trúc L1 anh Lê Văn H1 chung từ năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ, chồng sống chung bên gia đình chồng tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Vợ, chồng sống chung hạnh phúc được vài tháng, khi chị L2 thai con được 6 tháng thì vợ, chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Lý do anh H2 làm công nhân thu nhập thấp nhưng ham chơi đá gà, số đề, cá độ bóng đá qua mạng gây nợ nhiều, có chủ nợ đã vô nhà tìm yêu cầu chị L3 trả nợ thay cho anh H3. L trả được vài tháng thì không có tiền trả nữa. Ngoài ra, anh H4 có quen nhiều người phụ nữ khác, hết người này đến người kia, chị L4 xuyên bắt gặp anh H5 tin trên điện thoại với họ. Trong số tin nhắn mà anh H5 nội dung hẹn hò đi ăn đi chơi, cho tiền họ và nói xấu chị L. Tháng 9 năm 2022, vợ chồng ra thuê nhà trọ ở riêng tại xã P, huyện C 4 tháng. Sau đó, anh H6 nợ ra Đà Nẵng đi làm, anh H7 nói là sẽ gửi tiền về phụ vợ nuôi con nhưng không thực hiện. Năm 2023, anh H8 về sống ở nhà mẹ anh H9 gian này chị L5 thuê nhà trọ ở xã L, huyện C. Đến tháng 5 năm 2024, chị L5 chuyển lên thành phố T, Thành phố H hủ tiếu phụ người cô ruột và có đưa theo người con để cùng sinh sống. Từ đó, đến nay giữa chị L1 chồng, cũng như gia đình chồng không còn liên lạc với nhau nữa.
Nay chị L6 thấy hôn nhân của chị L12 anh H thực tế không còn, mục đích hôn nhân không còn đạt được, thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, không còn hạnh phúc nên chị L7 kiện yêu cầu Tòa án cho chị Phạm Thị Trúc L8 ly hôn với anh Lê Văn H.
Về con chung: Có 01 người con tên Lê Phạm Phúc T ngày 27 tháng 01 năm 2022. Khi ly hôn, chị L9 cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L10 yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án thực hiện phương thức tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng anh H vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Trúc L đối với bị đơn anh Lê Văn H nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn chị Phạm Thị Trúc L11 đề đơn nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án thông báo hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị L12 anh H10 đúng pháp luật.
[2] Nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Trúc L12 anh Lê Văn H xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Trúc L1 anh Lê Văn H: Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của chị L lý do mâu thuẫn mà chị L9 cầu ly hôn với anh H10 do anh H11 xuyên chơi đá gà, số đề, cá độ bóng đá qua mạng gây nợ nhiều và chủ nợ có đến nhà tìm yêu cầu chị L13 nợ, chị L14 đã trả nợ thay cho anh H. Ngoài ra, anh H4 có quen nhiều người phụ nữ khác, hẹn hò đi ăn, đi chơi, cho tiền họ và nói xấu chị L. Trong thời gian anh H2 làm ở Đà Nẵng không có gửi tiền về phụ chị L15 con, một mình chị L16 hết công việc và nuôi con. Đến tháng 5 năm 2024, chị L không thể sống chung được nữa nên chị L5 chuyển lên thành phố T, Thành phố H làm và có đưa theo người con để chăm sóc, nuôi dưỡng. Thời gian ly thân giữa chị L12 anh H không còn ai quan tâm đến ai, mà bỏ mặt lẫn nhau.
[2.2] Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H hợp lệ nhưng anh H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L. Tòa án cũng đã thông báo hợp lệ cho anh H tham gia phiên tòa hai lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án chị L vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Do vậy, xét thấy trên thực tế hôn nhân giữa chị L12 anh H đã không còn. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa chị L12 anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Trúc L12 anh Lê Văn H12.
[2.3] Về con chung: Quá trình sống chung chị L12 anh H có 01 người con Lê Phạm Phúc T sinh ngày 27 tháng 01 năm 2022. Người con Lê Phạm Phúc T1 chưa được 07 tuổi và trên 03 tuổi, anh H13 có ý kiến gì đối với người con. Mặt khác, con từ khi sinh ra lớn lên cho đến nay đều do chị L17 người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, anh H14 không đóng góp tiền để cho chị L15 con. Do vậy, tiếp tục để cháu T2 chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, sự tự nguyện của chị L17 phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa chị L12 anh H không có mặt, không có ý kiến của anh H15 Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[2.5] Về án phí: Chị Phạm Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Trúc L với anh Lê Văn H12
1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Trúc L được ly hôn với anh Lê Văn H12
2. Về con chung: Chị Phạm Thị Trúc L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con Lê Phạm Phúc T sinh ngày 27 tháng 01 năm 2022.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Trúc L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai số 0014169 ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An sang án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Phạm Thị Trúc L, anh Lê Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Đức |
Bản án số 49/2025/HNGĐ – ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Trúc L ly hôn Lê Văn H
