Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 3 - 2025
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể và ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 231/2024/TLST- HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXX-ST, ngày 07 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/TB-TA, ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa:

1. Họ và tên nguyên đơn: Nguyễn Hoài P, Sinh ngày: 14/8/1994. Địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh– vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Họ và tên bị đơn: Dương Thanh L, Sinh ngày: 06/8/1990. HKTT trước khi xuất cảnh: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại đang Lao động tại Hàn Quốc – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Hoài P trình bày:

- Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Hoài P và anh Dương Thanh L kết hôn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 23/11/2018. Vợ chồng chung sống hòa thuận được 2 - 3 tháng thì anh L đi lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu, anh L thường xuyên gọi điện về, quan tâm gia đình nội ngoại. Năm 2019, anh L có về thăm vợ con, tình cảm gia đình hòa thuận. Bắt đầu từ năm 2020, anh L ít gọi điện về nhà, vợ chồng bắt đầu cãi vã, xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L bài bạc, tranh chấp về tiền nong, anh L không có trách nhiệm với con cái và gia đình. Mâu thuẫn xảy ra đỉnh điểm khi hai năm qua, anh L không gọi điện về gia đình, Chị Nguyễn Hoài P gọi sang nhưng anh không nghe máy. Nay Chị Nguyễn Hoài P làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Thanh L. Trước khi làm đơn, vợ chồng đã bàn bạc và thống nhất với nhau nhưng anh L không gửi bất cứ giấy tờ gì về cho Chị Nguyễn Hoài P.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân Chị Nguyễn Hoài P và anh Dương Thanh L có 01 con chung là Dương Thanh P1, sinh ngày 14/11/2018. Từ khi sinh ra đến nay, con chung sống với Chị Nguyễn Hoài P, một mình chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Hoài P có nguyện vọng nuôi con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Dương Thanh L, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý và được người thân của anh L nhận thay. Đồng thời, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông tin trên phương tiện thông tin theo quy định để anh Dương Thanh L biết việc chị Nguyễn Hoài P có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng đến nay anh L vẫn không có văn bản trình bày quan điểm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:

- Về tình cảm: chị Nguyễn Hoài P được ly hôn anh Dương Thanh L.

- Về con chung: Giao con chung Dương Thanh P1, sinh ngày 14/11/2018 cho chị Nguyễn Hoài P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Dương Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: chị Nguyễn Hoài P nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Hoài P trình bày hiện nay anh Dương Thanh L đang lao động tại Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể. Vì vậy, Tòa án đã đề nghị Cục Q cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Dương Thanh L và tại Công văn số 1291/QLXNC - Đ1, ngày 12/12/2024 của Phòng QLXNC Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Dương Thanh L, sinh ngày 06/8/1990 đã xuất cảnh ngày 28/8/2019 qua sân bay Quốc tế N và hiện chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Dương Thanh L thông qua người thân của anh và thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.

Tại phiên tòa, anh Dương Thanh L vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết vắng mặt anh L theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh chị tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 23/11/2018 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hòa thuận được 2 - 3 tháng thì anh L đi lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu, anh L thường xuyên gọi điện về, quan tâm gia đình nội ngoại. Năm 2019, anh L có về thăm vợ con, tình cảm gia đình hòa thuận. Bắt đầu từ năm 2020, anh L ít gọi điện về nhà, vợ chồng bắt đầu cãi vã, xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L bài bạc, tranh chấp về tiền nong, anh L không có trách nhiệm với con cái và gia đình. Từ năm 2023 đến nay, mâu thuẫn xảy ra đỉnh điểm, vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị P làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Thanh L.

Hiện nay anh Dương Thanh L đang lao động tự do tại Hàn Quốc, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục xác minh địa chỉ, tại chính quyền địa phương, thông qua người thân của anh L để thông báo về việc thụ lý giải quyết vụ án và nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng anh L không có ý kiến và cũng không có mặt theo thông báo làm việc. Vì vậy, đây thuộc trường hợp bị đơn cố tình che giấu địa chỉ theo khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng quy định.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh L đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm hôn nhân phải xuất phát từ hai phía nhưng chị P có nguyện vọng được ly hôn anh L, nguyện vọng của chị là chính đáng nên cần chấp nhận. Mặt khác, anh L đã biết việc chị P khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng hoàn toàn không có ý kiến cũng như không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Xét thấy cháu Dương Thanh P1 sinh sống cùng mẹ từ khi sinh ra đến nay. Để đảm bảo ổn định cuộc sống của con chung, mặt khác anh L hiện đang lao động ở nước ngoài nên cần chấp nhận nguyện vọng của chị P, giao con chung Dương Thanh P1 cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Dương Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét

[2.4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Hoài P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật TTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hoài P. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Hoài P được ly hôn anh Dương Thanh L.

2. Về con chung: Giao con chung Dương Thanh P1, sinh ngày 14/11/2018 cho chị Nguyễn Hoài P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Dương Thanh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Hoài P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000193 ngày 29/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Cẩm Nhượng, H.Cẩm xuyên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger