|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trò
2. Ông Nguyễn Việt Tú
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Kiều Anh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2025/TLST- HNGĐ ngày 07/02/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
(Anh H có mặt; Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh Nguyễn Duy H trình bày:
Anh và chị Vũ Thị T kết hôn ngày 16/4/2024, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tự nguyện tìm hiểu nhau. Anh có đi nước ngoài năm 2008 sau đó có quen chị T và sinh được hai cháu đều chỉ có mẹ đứng giấy khai sinh. Sau khi về Việt Nam anh chị đăng ký kết hôn năm 2024. Sau khi đăng ký kết hôn cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau, hai vợ chồng không hòa giải được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng không còn tiếng nói chung. Hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
Về con chung: Anh và chị Vũ Thị T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 05/11/2009 và cháu Nguyễn Tiến Q, sinh ngày 22/11/2015. Khi ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thị Anh T1 và giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Tiến Q đến khi các con chung thành niên. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp, đất nông nghiệp: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn: Tòa án đã báo gọi nhiều lần nhưng chị T không đến Tòa án làm việc, tại buổi làm việc ngày 26/5/2025 chị T trình bày như sau: Chị và anh H đi làm ăn xa, được sự đồng ý của hai bên gia đình anh chị chung sống với nhau và sinh được 02 người con chung. Đến năm 2024 anh chị có đi đăng ký kết hôn. Thời gian sau đó vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2024 đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay anh H có đơn đề nghị ly hôn chị nhất trí vì tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Duy H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 05/11/2009 và cháu Nguyễn Tiến Q, sinh ngày 22/11/2015. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Tiến Q và giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thị Anh T1 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp, đất nông nghiệp: Hai bên xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn là đúng quy định pháp luật. Đối với bị đơn đã vi phạm khoản 15, 16 Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Duy H và chị Vũ Thị T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 05/11/2009 cho anh Nguyễn Duy H và giao cháu Nguyễn Tiến Q, sinh ngày 22/11/2015 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi từng con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Các đương sự tự thỏa thuận, không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Duy H phải chịu 75.000 đồng (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Nguyễn Duy H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005094 ngày 07/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho anh Nguyễn Duy H 225.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Chị Vũ Thị T phải chịu 75.000 đ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa anh Nguyễn Duy H và chị Vũ Thị T. Bị đơn là Vũ Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Vũ Thị T có đơn xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T là phù hợp pháp luật.
[3] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Duy H và chị Vũ Thị T có đăng ký kết hôn ngày 16/4/2024 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, hai bên tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Đây là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, phù hợp với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2024 đến nay. Điều đó cho thấy mẫu thuẫn của chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh H xin ly hôn chị T, chị T có quan điểm nhất trí yêu cầu xin ly hôn của anh H. Nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của anh H và chị T là phù hợp.
Về con chung: Anh Nguyễn Duy H và chị Nguyễn Thị T2 có 02 con chung là Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 05/11/2009 và cháu Nguyễn Tiến Q, sinh ngày 22/11/2015. Khi ly hôn anh anh chị đều nhất trí giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thị Anh T1 và giao cháu Nguyễn Tiến Q cho chị T2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào. Xét đây là sự tự nguyện của các bên đương sự và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Anh Nguyễn Duy H và chị Vũ Thị T đều thống nhất xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Mỗi bên đều phải chịu ½ tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Duy H và chị Vũ Thị T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 05/11/2009 cho anh Nguyễn Duy H và giao cháu Nguyễn Tiến Q, sinh ngày 22/11/2015 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi ly hôn cho đến khi từng con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên nào.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Các đương sự tự thỏa thuận, không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Duy H phải chịu 75.000 đồng (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Nguyễn Duy H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005094 ngày 07/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho anh Nguyễn Duy H 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Chị Vũ Thị T phải chịu 75.000 đ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Duyên |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ HNGĐ Hưng - Thành
