|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/6/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hướng và bà Trần Thị Thu Điệp.
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Hằng, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trường Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 25/02/2025; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QÐST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, Thông báo chuyển ngày xét xử số 211 ngày 09/6/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thị xã H, thành phố H; địa chỉ liên lạc: Thôn L, thị trấn S, huyện Q, thành phố H, có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thị xã H, thành phố H; địa chỉ liên lạc: A, A, H, Hà Nội, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 9 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H đều trình bày:
Chị và anh Trần Thanh P đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) vào ngày 16/6/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh P không quan tâm gì đến gia đình, vợ con, hay nhậu nhẹt, cờ bạc về nhà còn đánh chị. Chị đã cố gắng tiếp tục chung sống và khuyên nhủ nhưng anh P vẫn không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Do đó chị và anh P đã sống ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh P để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị H khai chị và anh P có 01 con chung là cháu Trần Thanh H1, sinh ngày 26/01/2021. Từ nhỏ đến tháng 5 năm 2024 cháu H1 ở với chị và chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Đến tháng 9 năm 2024, sau khi vào thăm cháu thì anh P đem cháu ra Hà Nội sinh sống mà không có sự đồng ý của chị. Từ đó cho đến nay mẹ con chị xa cách và chị rất đau khổ vì nhớ con. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H1 và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại chị làm công nhân, thu nhập mỗi tháng từ 5.000.000 đồng- 6.000.000 đồng. Ngoài ra chị còn làm thêm ở các quán ăn, thu nhập mỗi tháng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Tổng thu nhập hàng tháng từ 6.000.000 đồng- 8.000.000 đồng nên đủ để chăm sóc tốt cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 10/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Thanh P trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân thì như chị H đã trình bày, còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì thực tế anh chỉ đánh chị một vài lần. Anh thừa nhận có nhậu nhẹt, có đánh bài với bạn bè nhưng không phải là say sưa. Anh cũng đã biết lỗi của mình và anh sẽ cố gắng thay đổi để vợ chồng đoàn tụ với nhau. Chị H cũng là người có lỗi, có nhiều tật xấu nhưng anh không muốn đề cập đến vấn đề này. Anh thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, vẫn có khả năng đoàn tụ nên anh không đồng ý ly hôn với chị H.
- - Về con chung: Anh P xác nhận vợ chồng chị có 01 con chung như chị H đã khai. Nếu ly hôn anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Trần Thanh H1 và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại điều kiện tài chính của anh rất tốt, là tổ trưởng tổ sơn, thu nhập mỗi tháng từ 14.000.000 đồng -15.000.000 đồng.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Anh P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 3 năm 2025, bà Trần Thị L (là mẹ của chị Nguyễn Thị H) trình bày: Vợ chồng anh Trần Thanh P, chị Nguyễn Thị H kết hôn vào năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng H, P chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian đầu, đến thời điểm chị H sinh con thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh P đi làm về ít khi đưa tiền cho vợ con, chỉ đưa một phần rất nhỏ không đủ để chị H chăm sóc con và gia đình và rất kỹ lưỡng trong chuyện chi tiêu. Mặt khác còn đánh chị H khi không vừa ý. Anh P đi làm xa gia đình, chị H cũng bỏ việc để cùng ra Hà Nội để làm ăn nhưng do mâu thuẫn nên phải quay vào Huế. Theo lời chị H kể lại thì mâu thuẫn vợ chồng đã lâu nhưng do sợ bà buồn nên giấu bà, thực tế tình trạng hôn nhân ngày càng tồi tệ. Vợ chồng H, P có 01 con chung là Trần Thanh H1, sinh ngày 26/01/2021. Từ khi sinh ra cháu H1 vẫn ở với mẹ, đến thời điểm tháng 9 năm 2024, sau khi vào thăm nhà, anh P nói đón cháu về nhà nội chơi một vài hôm nhưng sau đó tự ý đưa cháu ra Hà Nội làm chị H rất đau khổ, không có cách nào để gặp gỡ cháu được. Hiện chị H tối nào cũng khóc lóc vì nhớ con, tinh thần không ổn định, mặt khác cháu H1 còn quá nhỏ, sẽ tổn thương tâm lý của cháu trong môi trường mới lạ và không có mẹ. Nay chị H xin ly hôn anh P và có nguyện vọng trược trực tiếp nuôi con chung thì bà đề nghị Tòa án xem xét cho chị H được ly hôn và được trực tiếp nuôi dưỡng con chung để ổn định cuộc sống, hàn gắn tình cảm mẹ con.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn anh P, được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, anh Trần Thanh P đồng ý thuận tình ly hôn với chị H; có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- - Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Thanh P;
Về con chung: Giao cháu Trần Thanh H1, sinh ngày 26/01/2021 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Anh P và chị H không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Trần Thanh P. Anh P có nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thị xã H, thành phố H. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Thanh P có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) vào ngày 16/6/2017 (số A, năm 2017). Như vậy, hôn nhân giữa anh P và chị H là hợp pháp.
- Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn cương quyết ly hôn với anh P, phía anh P cũng đã đồng ý ly hôn với chị H. Nhận thấy, việc thuận tình ly hôn giữa anh P và chị H là tự nguyện, không có ai ép buộc. Do đó, Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình để công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh P và chị H.
- Về con chung: Anh P và chị H có 01 con chung là cháu Trần Thanh H1, sinh ngày 26/01/2021. Khi ly hôn, cả chị H và anh P đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1. Xét yêu cầu của chị H và anh P về việc nuôi con sau khi ly hôn, thì thấy:
Theo quy định tại Điều 81 về Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì: “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”. Trên cơ sở ý kiến của các đương sự và các tài liệu thu thập được đều thể hiện anh P và chị H đều có lao động thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên, do anh P hiện đang làm ăn ở xa, việc ăn ở sinh hoạt tại địa điểm thuê mướn không đảm bảo điều kiện tốt nhất đối với cháu H2; trong khi từ lúc cháu H1 sinh ra đều do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, việc chị H không trực tiếp nuôi con từ tháng 9/2024 đến nay là do anh P tự ý đưa con ra Hà Nội sinh sống, làm gián đoạn cản trở việc chị H trực tiếp chăm con; mặt khác, cháu H1 hiện nay còn quá nhỏ (mới 04 tuổi 04 tháng 28 ngày), trong độ tuổi cần phải có sự chăm sóc và môi trường đặc biệt để nuôi dưỡng về sức khỏe, phát triển thể chất và tinh thần; hơn nữa, cả gia đình ông bà nội, ngoại của cháu H2 đều đang sinh sống tại Huế nên việc giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, nhằm tạo môi trường và điều kiện để cháu tiếp xúc, gần gũi với gia đình ông bà nội, ngoại đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung.
Chị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc anh P thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tùy vào độ tuổi, điều kiện sống, hoàn cảnh thích hợp hoặc nếu chị H vi phạm các điều kiện nuôi dưỡng con chung, thì anh P có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi quyền nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Do chị H không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh P chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh P và chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Do anh P và chị H tự nguyện thỏa thuận thuận tình ly hôn tại phiên tòa nên mỗi người phải chịu 50% án phí. Chị H và anh P thỏa thuận chị H chịu toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H đối với anh Trần Thanh P về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Thanh P.
- Về con chung: Buộc anh Trần Thanh P giao con chung là cháu Trần Thanh H1, sinh ngày 26/01/2021 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Anh P chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh P xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Thanh P. Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0001713 ngày 25/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn
