Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẺ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-3-2025.

“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoàng Bảy.

2. Ông Trần Minh Hiếu.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 276/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69A/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 07/3/2025, giữa:

* Nguyên đơn: Nguyễn Việt K, sinh ngày 01/01/1976; Địa chỉ: Số C, ấp Đ, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Nguyễn Châu Tuyết L, sinh ngày 01/6/1977; Địa chỉ: Số C, ấp Đ, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Ông Nguyễn Việt K và bà Nguyễn Châu Tuyết L quen biết và có tình cảm với nhau, sau đó được gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2002, có đăng ký kết hôn và đã được UBND xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 177/2002 ngày 27/12/2002. Qúa trình chung sống, ông bà có 05 người con chung tên Nguyễn Châu Anh T, sinh ngày 21/10/2002 và Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 21/12/2006 hiện nay đã trưởng thành phát triền bình thường về thể chất lẫn tinh thần; Nguyễn Việt C, sinh ngày 30/8/2008; Nguyễn Việt N, sinh ngày 28/5/2010 và Nguyễn Châu Anh T1, sinh ngày 19/9/2011 hiện đang sống chung với ông K.

Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn phát sinh ngày càng trầm trọng nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Từ năm 2022 bà L thường bỏ nhà đi nhiều lần, không quan tâm chồng con, vì nghĩ cho gia đình và thương con nên ông K cũng nhiều lần tìm bà L và khuyên nhủ bà về sống với gia đình, cùng lo cho các con chung, bà L có quay về tiếp tục chung sống đến tháng 8/2024 thì bà L lại bỏ nhà đi tiếp. Nhận thấy cuộc sống chung giữa vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông K yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Về hôn nhân: Ông K yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Châu Tuyết L.
  • - Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Châu Anh T, sinh ngày 21/10/2002 và Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 21/12/2006 hiện nay đã trưởng thành phát triền bình thường về thể chất lẫn tinh thần, nên ông không yêu cầu giải quyết. Còn ba con chung tên Nguyễn Việt C, sinh ngày 30/8/2008; Nguyễn Việt N, sinh ngày 28/5/2010 và Nguyễn Châu Anh T1, sinh ngày 19/9/2011 thì ông K có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn là bà Nguyễn Châu Tuyết L: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà L nhưng bà không tham gia tố tụng, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của bà nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và yêu cầu của bà L.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ; Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Việt K và bà Nguyễn Châu Tuyết L đều vắng mặt. Vì vậy, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy tại phiên tòa, ông Nguyễn Việt K có đơn xin xét xử vắng mặt và không thay đổi yêu cầu khởi kiện; Bà Nguyễn Châu Tuyết L đã được tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà L quen biết, có tình cảm và tổ chức cưới nhau trên tinh thần tự nguyện vào năm 2002, có đăng ký kết hôn và đã được UBND xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 177/2002 ngày 27/12/2002 theo quy định pháp luật, nên được pháp luật công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông K và bà L phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nhưng ông bà không tìm biện pháp hàn gắn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và kéo dài. Ông K và bà L đã không sống chung với nhau từ tháng 8/2024 cho đến nay, trong khoảng thời gian này thì ông bà cũng không tìm được biện pháp nhằm hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, để cùng chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức và triệu tập các đương sự tham gia các phiên hòa giải nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho ông K và bà L gặp nhau để tìm biện pháp hàn gắn và đoàn tụ, vì quan hệ hôn nhân là phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, nhưng bà L không tham gia và ông K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là kiên quyết ly hôn với bà L. Từ đó cho thấy tình cảm vợ chồng của ông K và bà L đã rạn nứt trầm trọng, không còn biện pháp nào hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ, vậy nên mục đích hôn nhân đã không đạt được và cuộc sống chung không thể kéo dài.

Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là ông Nguyễn Việt K, tuyên bố ông K được ly hôn với bị đơn là bà Nguyễn Châu Tuyết L.

[3.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông K và bà L có năm người con chung tên Nguyễn Châu Anh T, sinh ngày 21/10/2002 và Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 21/12/2006; Nguyễn Việt C, sinh ngày 30/8/2008; Nguyễn Việt N, sinh ngày 28/5/2010 và Nguyễn Châu Anh T1, sinh ngày 19/9/2011; Lời khai này của ông K phù hợp với Giấy khai sinh các con chung ông cung cấp và có trong hồ sơ vụ án. Đối với hai con chung tên T và Đ hiện nay đã trưởng thành, phát triền bình thường về thể chất lẫn tinh thần và ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ông K có yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung tên Nguyễn Việt C, sinh ngày 30/8/2008; Nguyễn Việt N, sinh ngày 28/5/2010 và Nguyễn Châu Anh T1, sinh ngày 19/9/2011, vì hiện nay ba con chung đang do ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Xét thấy, từ khi ông K và bà L không còn sống chung đến nay (tháng 8/2024) thì ba con chung tên C, N và T1 vẫn sống chung với ông K, được ông K chăm sóc, nuôi dưỡng tốt và ông K có yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn với bà L. Ba con chung tên C, N và T1 đều có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với cha là ông K sau khi ông K và bà L (cha mẹ các cháu) ly hôn. Bà L cũng không có ý kiến hay có tranh chấp gì. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao ba con chung tên C, N và T1 cho ông K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như ổn định môi trường sống cho các con chung tên tên C, N và T1, đồng thời cũng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao ba con chung tên Nguyễn Việt C, sinh ngày 30/8/2008; Nguyễn Việt N, sinh ngày 28/5/2010 và Nguyễn Châu Anh T1, sinh ngày 19/9/2011 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi ba con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc ông K không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung theo quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình, không ai được quyền cản trở.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách như đã phân tích trên.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

TUYÊN XỬ:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Việt K.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Việt K được ly hôn với bà Nguyễn Châu Tuyết L.
  2. Về con chung: Giao ba con chung tên Nguyễn Việt C, sinh ngày 30/8/2008; Nguyễn Việt N, sinh ngày 28/5/2010 và Nguyễn Châu Anh T1, sinh ngày 19/9/2011 cho ông Nguyễn Việt K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi ba con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc ông K không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Châu Tuyết L được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Việt K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông K đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007446 ngày 18/102024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Ông K đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm. Bà L không phải chịu án phí sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Việt K và bị đơn Nguyễn Châu Tuyết L vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách – Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS huyện Kế Sách – Sóc Trăng;
  • - UBND xã Cẩm Sơn – Cai Lậy - Tiền Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Bích Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (ly hôn và nuôi con) Khắc - Lan
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger