|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-12-2025 V/v: “Ly hôn” |
BẢN ÁN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Văn Phú Vinh
-
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải
-
Bà Nguyễn Thị Uyên
-
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Ngọc Phú - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tấm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 202/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 của các đương sự.
Nguyên đơn: Ông Bùi Quý T, sinh năm 1998; cư trú: 227 đường L, phường 3 B, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Bà Trương Thị H, sinh năm 1987; cư trú: Thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T và bà H có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn ông Bùi Quý T trình bày được tóm tắt như sau: Vào năm 2020, ông T và bà Trương Thị H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, nay là xã P, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cãi vã, không cùng quan điểm sống dẫn đến đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Vì vậy, nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà H.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 người con là cháu Bùi An A, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2020. Sau khi ly hôn ông T yêu cầu được nuôi con chung cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn bà Trương Thị H trình bày được tóm tắt như sau: Thống nhất như lời trình bày của ông Bùi Quý T về toàn bộ sự việc nêu trên, nay bà H cũng đồng ý ly hôn với ông T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 người con chung là cháu Bùi An A, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2020. Khi ly hôn, bà đồng ý giao cháu A cho ông T trực triếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án, Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đượng sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Áp dụng vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39; 40 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Bùi An A cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con do ông T không có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp “ly hôn” do ông T đứng đơn khởi kiện, bị đơn là bà H cư trú tại: Thôn P, xã P, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, 39, 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai.
Về việc vắng mặt đương sự: Ông T, bà H trong quá trình thu thập chứng cứ đã có lời khai trình bày quan điểm cũng như yêu cầu của mình. Đồng thời đã có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T, bà H theo thủ tục chung.
[2] Phân tích nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là ông T cho thấy, ông và bà H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, nay là xã P, tỉnh Đồng Nai. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không còn phù hợp, bất đồng quan điểm sống đến mức trầm trọng, hiện nay đã sống ly thân mỗi người một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Do đó, ông T yêu cầu được ly hôn với bà H.
Tại phiên tòa, mặc dù ông T và bà H có đơn xin giải quyết vắng mặt, nhưng căn cứ lời khai của ông bà trong quá trình thu thập chứng cứ và cho rằng bà đã cố gắng hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, ông bà xác định nay không còn tình cảm với nhau và vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2022. Hội đồng xét xử thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 người con chung là cháu Bùi An A, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2020. Do cháu A hiện nay đang ở với ông T, cho nên sau khi ly hôn, ông bà thống nhất đồng ý giao cháu A cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Đồng Nai tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; 36; 39; 40; 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quý T về việc tranh chấp “ly hôn”
- Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Quý T được ly hôn với bà Trương Thị H.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Bùi An A, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2020 cho ông Bùi Quý T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, bà Trương Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Ông Bùi Quý T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng.
(Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006735 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Văn Phú Vinh |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn
