|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-11-2025 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 -HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và Bà Bùi Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 221/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn T, sinh ngày 17/3/1976; Số CCCD: [...]. Địa chỉ: Thôn K, xã Y, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị B, sinh ngày 29/11/1986; Số CCCD: [...]. Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn K, xã Y, thành phố Hải Phòng. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Đoàn Văn T1, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn K, xã Y, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đoàn Văn T trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Ông và bà Hoàng Thị B được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là xã Y, thành phố Hải Phòng) vào ngày 10/12/2004. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại địa phương, cuộc sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, kinh tế vợ chồng không tập trung dẫn đến có sự nghi ngờ mất niềm tin với nhau trong cuộc sống. Đến tháng 10/2022, bà B đi lao động tại Đài Loan, do cuộc sống vợ chồng đã có những mâu thuẫn từ trước, vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm liên lạc nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Ông T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà B theo quy định.
Về con chung: Vợ chồng ông có 01 con chung là Đoàn Văn T1, sinh ngày 08/10/2005, hiện đã trưởng thành nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại lời khai của anh Đoàn Văn T1 (con trai bà Hoàng Thị B và ông Đoàn Văn T) thể hiện: Bà B hiện đang sinh sống tại Đài Loan, địa chỉ cụ thể anh không biết, nhưng mẹ anh thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Anh đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho bà B biết. Theo anh được biết thì ông T và bà B được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống, bố mẹ anh xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không hòa hợp. Thời gian sau này mẹ anh đi lao động tại Đài Loan, bố mẹ anh mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay ông T có đơn xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, anh đã thông báo cho bà B biết. Bà B không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với anh qua điện thoại và xác định vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không còn tình cảm nên cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Bà B xác định vợ chồng có 01 con chung hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung bà B không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Ông T và bà B có đăng ký kết hôn hợp pháp và sinh sống tại địa phương. Trong cuộc sống ông bà hay xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế. Thời gian sau này, bà B đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng mỗi người ở một nơi, đều đã có cuộc sống riêng và không còn quan tâm đến nhau. Nay ông T có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đoàn Văn T, người làm chứng anh Đoàn Văn T1 vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Bà Hoàng Thị B vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn giấu địa chỉ.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận cho ông Đoàn Văn T được ly hôn bà Hoàng Thị B; Về án phí: Ông Đoàn Văn T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Bà Hoàng Thị B hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, có nơi cư trú trước khi xuất cảnh thôn K, xã Y, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25/6/2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, ông T không cung cấp được địa chỉ của bà B tại Đài Loan. Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng đã yêu cầu ông T và anh T1 (con trai bà B) cung cấp địa chỉ, nhưng ông T và anh T1 không cung cấp được. Anh Đoàn Văn T1 xác định bà B vẫn liên lạc với gia đình, anh đã thông báo cho bà B biết về việc ông T có đơn xin ly hôn, bà B không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân khu vực 11 -Hải Phòng tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt; Bị đơn bà B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đoàn Văn T và bà Hoàng Thị B kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là xã Y, thành phố Hải Phòng) ngày 10/12/2004, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống ông bà xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, kinh tế không tập trung. Thực tế vợ chồng mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Bà Hoàng Thị B không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, bà B xác định vợ chồng đã sống ly thân, không còn tình cảm nên cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà B đã trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho ông Đoàn Văn T ly hôn bà Hoàng Thị B là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Ông Đoàn Văn T và bà Hoàng Thị B có một con chung là Đoàn Văn T1, sinh ngày 08/10/2005, hiện nay con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Đoàn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25/6/2025; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Đoàn Văn T ly hôn bà Hoàng Thị B.
- Về án phí: Ông Đoàn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003624 ngày 13/10/2024 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo: Ông Đoàn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bà Hoàng Thị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đoàn Văn T xin ly hôn bà Hoàng Thị B
