TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/12/2025 “V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Trĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và ông Lê Quang Thế.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 18/12/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 157/2025/TLST - HNGĐ ngày 28/10/2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 02/12/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị V, sinh năm: 1979 (vắng mặt).
Quê quán: Thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Nay là Thôn Dưỡng Phú, xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên.
HKTT: Thôn Đồng Lý, thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Nay là thôn Đồng Lý, xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức M, sinh năm: 1977 (vắng mặt).
HKTT, trú tại: Thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nay là thôn Đ, xã L, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Hoàng Thị V trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đ, xã L, tỉnh Hưng Yên) trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 01/8/2005.
Sau khi kết hôn, chị chuyển khẩu và về chung sống cùng anh M tại thôn Đ, xã L, tỉnh Hưng Yên. Ngay thời gian đầu chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, anh M thường xuyên chửi bới, đánh đập chị. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh M không thay đổi. Do áp lực nên từ khoảng tháng 9/2025, chị chuyển ra ngoài sinh sống, sau đó anh M xin lỗi, vì các con chị quay lại chung sống nhưng anh M không hề thay đổi, nay chị chuyển đến thôn M, xã L, tỉnh Hưng Yên sinh sống, vợ chồng hiện ly thân, sau khi ly thân anh M vẫn tiếp tục tìm đến gây sự. Đến nay cả hai không còn tình cảm, kinh tế hoàn toàn độc lập, xét thấy không thể chung sống nên chị xin được ly hôn với anh M để sớm ổn định cuộc sống.
Bị đơn anh Nguyễn Đức M trình bày: Về quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống đúng như chị V trình bày.
Về nguyên nhân, diễn biến mâu thuẫn, anh M thừa nhận trong cuộc sống anh nóng tính, có hay chửi bới, tát chị V, việc chị V trình bày là đúng nhưng mức độ không nghiêm trọng đến mức phải ly hôn, chị V tự bỏ đi sống riêng, anh cũng đã dùng mọi biện pháp để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị V không nhất trí. Nay chị V xin ly hôn, xét còn tình cảm và vì các con anh có nguyện vọng được đoàn tụ, trường hợp chị V vẫn cương quyết xin ly hôn, anh cũng nhất trí.
Về con chung: Cả hai khẳng định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 24/7/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 20/9/2009.
Do cháu Hoàng A đã trưởng thành nên cả hai không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết. Đối với cháu Y đang ở với chị V, chị V có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh M có quan điểm nhất trí.
Về tài sản chung, công nợ chung, đất đai, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Cả hai không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thị Hoàng Y trình bày: Cháu là con của anh Nguyễn Đức M và chị Hoàng Thị V. Gia đình cháu có hai anh em là cháu và anh Nguyễn Hoàng A, hiện cháu ở cùng với chị V. Quá trình chung sống cháu chứng kiến bố, mẹ cháu xảy ra mâu thuẫn, bố cháu thường xuyên đánh đập mẹ cháu, mẹ cháu phải thuê nhà để sinh sống. Nay mẹ cháu xin ly hôn với bố cháu, cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ.
Biên bản xác minh ngày 04/11/2025, UBND xã L cung cấp: Anh Nguyễn Đức M và chị Hoàng Thị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L ngày 01/8/2005 (số E, quyển số 01/ 2005). Anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 24/7/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 20/9/2009, hiện cháu Y đang sinh sống cùng chị V. Về tài sản chung, công nợ chung, đất đai, công sức đóng góp với hai bên gia đình UBND xã không nắm rõ. Đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữ chị V và anh M theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết cả nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại phiên toà:
- - Nguyên đơn, bị đơn vắng do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- 1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- 2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 144; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 57; 81; 82; 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 20/9/2009 cho chị V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về ruộng canh tác nông nghiệp của hai vợ chồng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Hoàng Thị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 24/10/2025, chị Hoàng Thị V có đơn khởi kiện anh Nguyễn Đức M, xin được ly hôn và các vấn đề liên quan. Anh Nguyễn Đức M có hộ khẩu thường trú; trú tại thôn Đ, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đ, xã L, tỉnh Hưng Yên). Như vậy, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Tại phiên tòa, nguyên đơn; bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị V và anh Nguyễn Minh Đ kết hôn tự nguyện, đã được UBND thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên đăng ký kết hôn ngày 01/8/2005, do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Quá trình giải quyết, cả hai anh chị đều khẳng định, quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân, chị V trình bày anh M có hành vi bạo lực gia đình, bản thân anh M thừa nhận và lời trình bày của anh, chị phù hợp với lời trình bày của cháu Nguyễn Thị Hoàng Y là con anh chị. Anh M có quan điểm còn tình cảm và vì các con nên có nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ, trường hợp chị V cương quyết xin ly hôn anh cũng nhất trí, như vậy nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ của anh không thực sự xuất phát từ mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, để vợ chồng thương yêu, tôn trọng, quan tâm chăm sóc và giúp đỡ nhau. Xét cuộc sống, hạnh phúc gia đình anh, chị đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình nên theo quy định tại khoản 1; 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cần xử cho chị Hoàng Thị V và anh Nguyễn Đức M được ly hôn để cả hai sớm tạo lập cuộc sống mới.
3. Về nuôi con chung: Vợ chồng anh, chị có hai con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 24/7/2006 và cháu Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 20/9/2009, hiện cháu A đã trưởng thành trên 18 tuổi nên không đặt ra xem xét giải quyết, cháu Y có nguyện vọng sinh sống cùng chị V. Quá trình giải quyết, chị V xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y, anh M có quan điểm nhất trí. Xét thấy nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị V là chính đáng, cháu Y đang sinh sống cùng chị V, cuộc sống ổn định và đảm bảo, chị V có đủ điều kiện tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y nên cần giao cháu Y cho chị V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, như quan điểm của anh M cũng như nguyện vọng của cháu Y và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. Do chị V không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh M có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung: công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất ruộng nông nghiệp: Chị V và anh M đều không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị V phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1; 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử;
- Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Đức M.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh ngày 20/9/2009 cho chị Hoàng Thị V được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Việc đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Anh Nguyễn Đức M có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất ruộng nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0002694 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị Hoàng Thị V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGD số 49 ngày 18/12/2025 về Xin ly hôn giữa chị V và anh M
