|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18 - 6 - 2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Như Toản
- Bà Lê Thu Thuý
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký viên, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 77/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lại Thị Thu T, sinh năm: 1994; nơi cư trú: tổ G, khu D, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Bị đơn: anh Vũ Văn M, sinh năm: 1994; nơi thường trú: thôn Đ, xã S, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Lại Thị Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn M chung sống với nhau từ năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 22/02/2022. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trước khi tiến tới hôn nhân, anh chị có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau là 05 tháng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn căng thẳng nhất từ tháng 11 năm 2024. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị và anh M bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Anh Minh hay ghen tuông, nghi ngờ không có căn cứ, cho rằng chị ngoại tình, không chung thuỷ, đến nơi làm việc của chị để đánh đập chị và gây rối mất trật tự để khiến chị mất thể diện với đồng nghiệp. Khi chị sinh con, anh M cho rằng đó không phải là con của anh, dùng những lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị nên chị rất sợ khi tiếp tục sống cuộc sống như vậy. Mặc dù, chị đã nhiều lần giải thích, tìm cơ hội để hàn gắn tình cảm nhưng anh M vẫn không thay đổi. Từ những mâu thuẫn đó dẫn đến việc vợ chồng xảy ra cãi vã, xúc phạm làm tổn thương nhau, cuộc sống chung không không thể hoà hợp. Ngoài ra, anh M đi làm không đưa tiền lương về cho chị để chi tiêu trong gia đình. Từ tháng 12 năm 2024 đến nay chị đã dọn ra ngoài ở, không sống cùng anh M nữa. Chị và anh M đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay, chị thấy bản thân không còn tình cảm với anh M, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, do đó chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.
Về con chung: trong quá trình chung sống, chị và anh Vũ Văn M có 01 con chung là Vũ Lại Hải S, sinh ngày 24/5/2022. Khi ly hôn, chị T đề nghị chị là người trực tiếp nuôi con chung Vũ Lại Hải S đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị và anh M tự thỏa thuận về cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: chị T trình bày chị T và anh M không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: chị T trình bày anh chị không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ Văn M không thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Thu T; không đến làm việc cũng như không tham gia các phiên toà, mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản xác minh ngày 07/5/2025, tại thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nơi tạm trú của anh M, chị T), đại diện thôn cho biết: vợ chồng anh Vũ Văn M và chị Lại Thị Thu T có sinh sống tại thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Anh Anh M1 và chị T có 01 con chung hiện nay đang còn nhỏ. Quá trình chung sống, anh M1 và chị T thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn gì và cụ thể như thế nào thì thôn không nắm được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lại Thị Thu T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với bị đơn anh Vũ Văn M và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Thu T: cho chị Lại Thị Thu T được ly hôn anh Vũ Văn M; về con chung: chị T là người trực tiếp nuôi con chung Vũ Lại Hải S đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh M có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị T và anh M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Lại Thị Thu T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn anh Vũ Văn M và đề nghị Tòa án giải quyết về nuôi con khi ly hôn; chị T và anh M đều có nơi cư trú tại thành phố H, nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Toà án cho các đương sự; tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự theo quy định. Tại các buổi làm việc và tại phiên toà, bị đơn đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: chị Lại Thị Thu T và anh Vũ Văn M kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã với nhau, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự yêu thương, tin tưởng, cảm thông lẫn nhau, anh M hay ghen tuông, nghi ngờ chị T không chung thủy, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2024 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ khẳng định tình trạng hôn nhân của chị T và anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T đã tìm nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm nhưng anh M vẫn không thay đổi. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng mà không thể hàn gắn, mục đích chung sống không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lại Thị Thu T cho chị T được ly hôn với anh Vũ Văn M là phù hợp với theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
2.2 Về con chung: đối với yêu cầu của chị T, chị T đề nghị là người trực tiếp nuôi con chung Vũ Lại Hải S, sinh ngày 24/5/2022 đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi); về cấp dưỡng nuôi con: chị T đề nghị chị và anh M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T luôn thể hiện nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vũ Lại Hải S do cháu S còn nhỏ, vừa tròn 36 (ba mươi sáu) tháng tuổi. Hiện nay, chị T làm công việc là nhân viên kế toán của Công ty Cổ phần T1 tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có mức thu nhập ổn định; quá trình giải quyết vụ án, chị T có nộp hợp đồng lao động thể hiện mức lương của chị T là 5.000.000đ (năm triệu đồng)/tháng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết ly hôn, anh M không có quan điểm về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị Lại Thị Thu T có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.
2.3 Về tài sản chung: chị T và anh M không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
2.4 Về các khoản nợ chung: chị T và anh M không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[3] Về án phí: nguyên đơn chị Lại Thị Thu T có nghĩa vụ nộp án phí hôn ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, nuôi con chung của chị Lại Thị Thu T.
- Về quan hệ hôn nhân: cho chị Lại Thị Thu T ly hôn với anh Vũ Văn M.
- Về con chung: giao con chung Vũ Lại Hải S, sinh ngày 24/5/2022 cho chị Lại Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con chung làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: chị Lại Thị Thu T có nghĩa vụ nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001858 ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Lại Thị Thu T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Vũ Văn M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị T và anh M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Phương |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn, nuôi con chung giữa nguyễn đơn chị Lai Thi Thu T và anh Vu Van M
