|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-02-2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh;
Địa chỉ cư trú hiện nay: VinCent - V-G-Strabe 10.13057 Berlin, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Hữu P, sinh năm 1985;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: 10407 B. 126 A, Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn trình bày, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đức), nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Hồ Hữu P có đăng ký kết hôn vào ngày 04/7/2016, tại Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ. Sau khi kết hôn, tuy kinh tế khó khăn nhưng vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc. Thời gian chung sống tại Đức, do áp lực công việc lớn nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, đối xử thiếu tôn trọng nhau dẫn đến tình cảm không thể hàn gắn được. Hiện nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Hữu P để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung:
Trong thời gian làm việc tại nước Đức, chị và anh P quen biết và phát sinh tình cảm, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 và có 01 con chung là Hồ Đức Q, sinh ngày 12/01/2015. Nếu ly hôn, chị và anh P thỏa thuận chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến lúc trưởng thành và chị không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung:
Chị và anh P không có tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị H hiện đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đức, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1987; nơi làm việc: Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh N, số F đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn trình bày, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hồ Hữu P trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn vào ngày 04/7/2016, tại Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ. Sau khi kết hôn, tuy kinh tế khó khăn nhưng vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc. Thời gian chung sống tại Đức, do áp lực công việc lớn nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, đối xử thiếu tôn trọng nhau dẫn đến tình cảm không thể hàn gắn được. Hiện nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài nên chị H làm đơn ly hôn thì anh cũng đồng ý để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung:
Trong thời gian làm việc tại nước Đức, anh và chị H quen biết và phát sinh tình cảm, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 và có 01 con chung là Hồ Đức Q, sinh ngày 12/01/2015. Hiện con chung đang sống cùng với chị H tại nước Cộng hòa liên bang Đ. Nếu ly hôn, anh và chị H thỏa thuận chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến lúc trưởng thành và chị H không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung:
Anh và chị H không có tài sản chung, nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết
Anh Hồ Hữu P đang cư trú và làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đ. Vào ngày 24/01/2025, anh P đã về Việt Nam và đến ngày 04/02/2025, thì anh P đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị Nguyễn Thị H. Tuy nhiên, vì bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Do chị H và anh P đang ở nước ngoài nên cùng thống nhất lựa chọn Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An là Toà án có thẩm quyền để giải quyết việc ly hôn và thỏa thuận chị H chịu trách nhiệm nộp tiền tạm ứng án phí và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị H hiện đang cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Hữu P có địa chỉ cư trú tại nước Cộng hòa liên bang Đ; trước xuất cảnh, chị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam còn anh P có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Trong bản tự khai, chị H và anh P đều chọn Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An là nơi cư trú trước khi xuất cảnh của anh P để giải quyết việc ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì nguyên đơn chị Nguyễn Thị H không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Đ1 tại C liên bang Đ vào ngày 04 tháng 7 năm 2016, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, dù kinh tế khó khăn nhưng vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc. Thời gian chung sống tại nước Cộng hòa liên bang Đức, do áp lực công việc lớn nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, đối xử thiếu tôn trọng nhau dẫn đến tình cảm không thể hàn gắn được. Hiện nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau,
thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài nên chị H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Về phía anh P cũng đồng ý ly hôn, thỏa thuận nuôi con và không yêu cầu Tòa án chia tài sản theo yêu cầu ly hôn của chị H. Căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P.
[3]. Về con chung: Trong thời gian làm việc tại nước Cộng hòa liên bang Đ, anh P và chị H quen biết và phát sinh tình cảm, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 và có 01 con chung là Hồ Đức Q, sinh ngày 12/01/2015. Hiện con chung đang sống cùng với chị H tại nước Cộng hòa liên bang Đ. Nay ly hôn, chị H và anh P thỏa thuận: Chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hồ Đức Q, sinh ngày 12/01/2015 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành và chị H không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
[4]. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
[5]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chị H và anh P thỏa thuận chị H là người chịu án phí nên Tòa án ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P.
2. Về con chung:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P có 01 con chung;
Ghi nhận chị Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hồ Đức Q, sinh ngày 12/01/2015 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành và chị H không yêu cầu anh Hồ Hữu P phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Hồ Hữu P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung:
Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Hữu P không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.
4. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H thỏa thuận chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013851 ngày 06/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho chị H số tiền tạm ứng án phí 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hồ Hữu P hiện đang ở Việt Nam có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Thị Hà và Hồ Hữu P
