Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 49/2025/HNGĐ- ST

Ngày: 17/06/2025

“ V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hảo

Ông Nguyễn Công Thẩm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh: Bà Trần Thị Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 215/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 06 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Y, sinh năm 1992

Nơi ĐKHKTT: Nhà số 3 đường Cổng Thành, khối 5, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Chỗ ở hiện nay: Xóm 04, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1977

Trú tại: Nhà số 3 đường Cổng Thành, khối 5, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2025, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Chị Phạm Thị Y trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Quốc Tr kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu và sống với nhau từ năm 2012 nhưng đến ngày ngày 17 tháng 05 năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do khác biệt về quan điểm sống, anh Tr hay ghen tuông vô cớ và hay có hành vi bạo hành chị Y. Mặc dù gia đình hai bên nhiều lần khuyên giải nhưng anh Tr không sửa chữa, vì mâu thuẫn vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2022 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Tr để sớm ổn định cuộc sống cho cả hai bên.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Quốc Tr có 03 con chung là các cháu Phạm Mai C, sinh ngày 09/04/2013, Nguyễn Minh T, sinh ngày 21/06/2017 và Nguyễn Minh Th, sinh ngày 04/01/2021. (Cháu Phạm Mai C là con chung của vợ chồng nhưng khi đi khai sinh lại khai mang họ “Phạm” của mẹ).

Hiện tại, 02 cháu Phạm Mai C và Nguyễn Minh Th đang do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và học tập ổn định cùng chị Y tại nhà bố mẹ đẻ chị Yến là ông Phạm Văn Đ, bà Trần Thị Q tại xóm 04A xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu từ năm 2022 cho đến nay (Cháu Mai C học Trường THCS Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu; cháu Minh Th học tại Trường mẫu giáo xã Quỳnh Châu).

Anh Nguyễn Quốc Tr đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh Tr và sinh sống cùng anh Tr nhà ông bà nội là ông Nguyễn Văn Ng và bà Khuất Thị Thúy V tại Nhà số 3 đường Cổng Thành, khối 5, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Nếu ly hôn, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu Phạm Mai C và Nguyễn Minh Th vì các cháu sinh sống cùng chị đã lâu, lại là con gái và đang sinh sống học tập, ổn định tại Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu; chị Y có công việc, thu nhập ổn định trung bình 01 tháng 15.000.000đ; anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh T. Anh Tr công việc, thu nhập không ổn định nên chị Y không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung. Trước đây, anh Tr đã có một đời vợ và có 02 người con đều đã đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (Khoản nợ): Chị Phạm Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại biên bản lấy lời khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa anh Nguyễn Quốc Tr trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc Tr và chị Phạm Thị Y kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày ngày 17 tháng 05 năm 2019 tại UBND xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng chưa đến mức trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn không phải tình tính, quan điểm sống không hợp như chị Y trình bày mà do chị Y không còn tình cảm vợ chồng với anh Tr sau một thời gian chị Y đi làm ăn xa về nhà. Anh Tr vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị Y nhưng chị Y kiên quyết xin ly hôn, anh Tr đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh thống nhất với chị Y, Anh Nguyễn Quốc Tr và chị Phạm Thị Y có 03 con chung là các cháu Phạm Mai C, sinh ngày 09/04/2013, Nguyễn Minh T, sinh ngày 21/06/2017 và Nguyễn Minh Th, sinh ngày 04/01/2021. (Cháu Phạm Mai C là con chung của vợ chồng nhưng khi đi khai sinh lại khai mang họ “Phạm” của mẹ).

2

Hiện tại, 02 cháu Phạm Mai C và Nguyễn Minh Th đang do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và học tập ổn định tại nhà bố mẹ đẻ chị Phạm Thị Y là ông Phạm Văn Đ, bà Trần Thị Q tại xóm 04A xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu từ năm 2022 cho đến nay (Cháu Mai C học Trường THCS Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu; cháu Minh Th đã xin học tại Trường mẫu giáo xã Quỳnh Châu). Anh Nguyễn Quốc Tr đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh T và sinh sống cùng nhà ông bà nội là ông Nguyễn Văn Ng và bà Khuất Thị Thúy V tại Nhà số 3 đường Cổng Thành, khối 5, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Trước đây, anh Trung đã có một đời vợ và có 02 người con là Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 16/11/2000 và Nguyễn Đình T1 sinh ngày 14/10/2003, đều đã đủ 18 tuổi trưởng thành, hiện đang sinh sống và làm việc tại nước Pháp.

Nếu ly hôn, anh Tr có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu Nguyễn Minh T và Nguyễn Minh Th vì chị Y không trực tiếp ở cùng các con mà đang giao cho ông bà ngoại nuôi; Chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Mai C; Không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh Tr đang làm tại Công ty TNHH Quốc Việt, địa chỉ số 02 đường Nguyễn Đức Cảnh, TP Vinh (Công ty kinh doanh máy tính), thu nhập bình quân 01 tháng 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Anh Tr, chị Y đều chưa có nhà riêng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (Khoản nợ): Thống nhất với chị Phạm Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Quốc Tr.

Về con chung: Giao các cháu Phạm Mai C, sinh ngày 09/04/2013, và Nguyễn Minh Th, sinh ngày 04/01/2021 cho chị Phạm Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Phạm Minh T, sinh ngày 21/06/2017 cho anh Nguyễn Quốc

3

Tr trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tr.

Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án hôn nhân gia đình do Phạm Thị Y yêu cầu, nơi ĐKHKTT và cư trú của bị đơn – Anh Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1977, trú tại: Nhà số 3 đường Cổng Thành, khối 5, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ nhưng chị Phạm Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Y theo quy định.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Quốc Tr kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu và sống với nhau từ năm 2012 đến ngày ngày 17 tháng 05 năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Yến, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do khác biệt về quan điểm sống, anh Tr hay ghen tuông vô cớ và hay có hành vi bạo hành chị Y. Mặc dù gia đình hai bên nhiều lần khuyên giải nhưng anh Tr không sữa chữa, vì mâu thuẫn vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2022 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, chị Y đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Tr để sớm ổn định cuộc sống cho cả hai bên. Anh Tr cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn không phải tình tính, quan điểm sống không hợp như chị Y trình bày mà do chị Y không còn tình cảm vợ chồng với anh Tr sau một thời gian chị Y đi làm ăn xa về nhà. Anh Tr vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị Y nhưng chị Y kiên quyết xin ly hôn, anh Tr đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Y, anh Tr thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Phạm Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Quốc Tr.

[2.2]. Về con chung: Chị Phạm Thị Y và anh Nguyễn Quốc Tr có 03 con chung là các cháu Phạm Mai C, sinh ngày 09/04/2013, Nguyễn Minh T, sinh ngày

4

21/06/2017 và Nguyễn Minh Th, sinh ngày 04/01/2021. Nếu ly hôn, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu Phạm Mai C và Nguyễn Minh Th; anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Minh T. Anh Tr không thống nhất với yêu cầu của chị Y và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu Minh T và Minh Th; Chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Mai C. Không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị Y, anh Tr đều chính đáng. Tuy nhiên, việc giao các con chung cho ai trực tiếp nuôi phải đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các cháu trong việc sinh sống, học tập. Theo trình bày của chị Y và có xác nhận của UBND xã Quỳnh Châu, hiện tại chị Y đang sinh sống cùng hai con Mai C và Minh Th tại nhà bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn Đ, bà Trần Thị Q trú tại xóm 04A xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu sinh sống từ năm 2022 cho đến nay, hai cháu Mai C, Minh Th là con gái, đều có nguyện vọng được trực tiếp ở với chị Y. Chị Y, anh Tr đều chưa có nhà riêng. Xét tổng thể vụ án việc giao cháu Mai C, Minh Th cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục sẽ tốt hơn anh Tr và tốt hơn cho các cháu trong học tập; giao cháu Minh T cho anh Trung trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tr là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của anh Tr, chị Y, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Anh Tr, chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y, anh Tr không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[3]. Về án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 238; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Quốc Tr.

2. Về con chung: Giao các cháu Phạm Mai C, sinh ngày 09/04/2013 và Nguyễn Minh Th, sinh ngày 04/01/2021 cho chị Phạm Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 21/06/2017 cho anh Nguyễn Quốc Tr trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Quốc Tr.

5

Chị Phạm Thị Y, anh Nguyễn Quốc Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Phạm Thị Y, anh Nguyễn Quốc Tr cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Quốc Tr, chị Phạm Thị Y trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị Phạm Thị Y, anh Nguyễn Quốc Tr không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.

4. Về án phí: Buộc chị Phạm Thị Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0009035 ngày 10/04/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Chị Phạm Thị Y đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Quốc Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Chị Phạm Thị Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND TP Vinh;
  • - Chi cục THADS TP Vinh;
  • - UBND xã Quỳnh Châu, H. Quỳnh Lưu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Khánh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ- ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Yến- Nguyễn Quốc Trung- Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger