Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 16-6-2025

“Về việc xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Nguyễn Đinh Cường

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: không tham gia

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 63/2025/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, về việc: “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kiều O, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Anh Trương Lê Hữu T, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đỗ Thị Kiều O trình bày: Chị và anh Trương Lê Hữu T do quen biết đi đến hôn nhân vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 14/8/2014.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận được thời gian đầu. Đến năm 2021, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do anh T ăn nhậu không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm không hợp nhau, không có tiếng nói chung, không có kinh tế chung... Cha mẹ hai bên hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không đoàn tụ được. Mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng không còn sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay.

Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: chị yêu cầu ly hôn với anh Trương Lê Hữu T.

- Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Trương Lê Huỳnh N, sinh ngày 01/01/2005 hiện đã trưởng thành tự lo cho bản thân không yêu cầu Tòa án giải quyết và Trương Lê Thành Đ, sinh ngày 25/3/2014 hiện đang sống với anh T, chị tự nguyện giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Trương Lê Hữu T đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Trương Lê Hữu T đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2004, chị Đỗ Thị Kiều O và anh Trương Lê Hữu T kết hôn theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 14/8/2014. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẩn vợ chồng: chị O cho rằng do anh T thường xuyên ăn nhậu không lo làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm không hợp nhau, không có tiếng nói chung, không có kinh tế chung.. Cha mẹ hai bên hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không đoàn tụ được. Mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng không còn sống chung với nhau từ năm 2021 đến nay.

Quá trình giải quyết anh T đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị O nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Do đó chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhân giữa chị O và anh T trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn được, nên xét việc chị O yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Trương Lê Huỳnh N, sinh ngày 01/01/2005 hiện đã trưởng thành tự lo cho bản thân không yêu cầu Tòa án giải quyết và Trương Lê Thành Đ, sinh ngày 25/3/2014 hiện đang sống với anh T, chị O tự nguyện giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử giao cháu Đ cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh T chưa yêu cầu nên không xem xét.

[4] Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung phải thu phải trả: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: chị O phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kiều O.

1/Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Kiều O được ly hôn với anh Trương Lê Hữu T.

2/Về con chung:

- T, sinh ngày 01/01/2005 hiện đã trưởng thành tự lo cho bản thân không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Giao con chung Trương Lê Thành Đ, sinh ngày 25/3/2014 anh Trương Lê Hữu T tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: anh T chưa yêu cầu nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3/Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung phải thu, phải trả: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4/Về án phí: chị Đỗ Thị Kiều O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số No 0006315 ngày 19 tháng 3 năm 2025.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) kể từ ngày nhận bản án hoạc tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAT;
  • - VKSNDH;
  • - THADS;
  • - UBND xã Nhơn Phú
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Tám

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ – ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Đỗ Thị Kiều O với Trương Lê Hữu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger