Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16 – 6 – 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Chúc
  2. Ông Lữ Khắc Hồi

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa 30/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị D, sinh ngày 01/01/1987 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Sơn Ngọc T, sinh năm 1987 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thạch Thị D trình bày: Vào năm 2010, chị và anh Sơn Ngọc T sau thời gian quen biết và được sự đồng ý của gia đình nên chị và anh T xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống chung với gia đình chị tại ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có được 01 con chung. Đến năm 2012, thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, đam mê cờ bạc, lô đề, rất nhiều lần chị khuyên nhưng anh không thay đổi. Từ đó, cuộc sống vợ chồng thường cự cãi và lớn tiếng nặng lời tổn thương nhau. Cho nên đến năm 2019, anh T đã bỏ chị và con về nhà cha mẹ ruột của anh tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh sinh sống và chị và anh T không sống chung từ đó cho đến nay. Từ lúc không sống chung anh T cũng không về thăm chị và con lần nào và hai bên cũng không tạo điều kiện hàn gắn lại tình cảm. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh Sơn Ngọc T. Chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Sơn Thị Huỳnh H, sinh ngày 29/12/2010, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Sơn Ngọc T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh cố tình vắng mặt nên Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật, anh T không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, vì vậy Tòa án chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối với chị H và không tiến hành hòa giải được.

- Tại bản tự khai ngày 31/3/2025 cháu Sơn Thị Huỳnh H trình bày: Con là con ruột của cha Sơn Ngọc T và mẹ Thạch Thị D. Nay cha mẹ con ly hôn, con xin trình bày con có nguyện vọng được sống chung với mẹ.

- Tại phiên tòa hôm nay là lần xét xử thứ hai, anh T vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Sơn Ngọc T theo khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Thạch Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn với anh Sơn Ngọc T, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Sơn Thị Huỳnh H, sinh ngày 29/12/2010, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự thực hiện theo các quy định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 97, 177, 196, 203, 205, 208, 209, 210, 211, 220, 239, 240, 243, 247, 249, 250 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nội dung vụ án: Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Ngọc D1. Cho chị D1 được ly hôn với anh T, giao con chung tên Sơn Thị Huỳnh H, sinh ngày 29/12/2010 cho chị D1 nuôi dưỡng (Theo nguyện vọng của em Sơn Thị Huỳnh H muốn sống cùng chị D1), anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có. Chị D1 có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch Thị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Sơn Ngọc T, đây là vụ kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Sơn Ngọc T có nơi cư trú tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Sơn N Trường hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Sơn Ngọc T.

[3] Về hôn nhân: Chị Thạch Thị D và anh Sơn Ngọc T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống với nhau giữa chị D và anh T không hạnh phúc, theo lời trình bày của chị D nguyên nhân mẫu thuẫn là do anh T không lo làm ăn, đam mê cờ bạc, lô đề, rất nhiều lần chị khuyên nhưng anh không thay đổi. Từ đó, cuộc sống vợ chồng thường cự cãi và lớn tiếng nặng lời tổn thương nhau. Cho nên đến năm 2019, anh T đã bỏ chị và con về nhà cha mẹ ruột tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh sinh sống, vợ chồng không sống chung từ đó cho đến nay. Từ lúc không sống chung anh T cũng không về thăm chị và con, hai bên cũng không tạo điều kiện hàn gắn lại tình cảm gia đình. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Sơn Ngọc T để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa nhưng anh T không có văn bản và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị D. Điều này chứng minh anh T không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ gia đình với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của chị D và anh Sơn Ngọc T không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 3 Điều 4 Nghị Quyết 01/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho chị D và anh T ly hôn là có cơ sở.

[4] Về con chung: Cháu Sơn Thị Huỳnh H, sinh ngày 29/12/2010, từ trước đến nay sinh sống chung nhà với chị D tại ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Hiện nay chị D có công việc và thu nhập ổn định và nguyện vọng của con là được tiếp tục sống chung với chị D. Căn cứ Điều 6 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao con chung Sơn Thị Huỳnh H, sinh ngày 29/12/2010, cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không có yêu cầu anh T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Tài sản chung, nợ chung: Chị Thạch Thị D khai không có và anh Sơn Ngọc T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

[7] Án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51; 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Thạch Thị D.

Cho chị Thạch Thị D được ly hôn với anh Sơn Ngọc T.

Giao con chung tên Sơn Thị Huỳnh H, sinh ngày 29/12/2010 cho chị Thạch Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Thạch Thị D không có yêu cầu anh Sơn Ngọc T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Anh Sơn Ngọc T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Thạch Thị D chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị D đã nộp theo biên lai số 0009922 ngày 18/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, chị D không phải nộp thêm.

Anh Sơn Ngọc T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phước Hậu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lữ Khắc Hồi Đỗ Văn Chúc

Nguyễn Phước H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Thạch Thị Diễn. Cho chị Thạch Thị Diễn được ly hôn với anh Sơn Ngọc Trường. Giao con chung tên Sơn Thị Huỳnh Hương, sinh ngày 29/12/2010 cho chị Thạch Thị Diễn trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Thạch Thị Diễn không có yêu cầu anh Sơn Ngọc Trường cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh Sơn Ngọc Trường có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Thạch Thị Diễn chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị Diễn đã nộp theo biên lai số 0009922 ngày 18/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, chị Diễn không phải nộp thêm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger