|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST. Ngày 12/6/2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Kỳ Trung.
Bà Dương Thị Mỹ Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 482/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025; giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: chị Lê Ngọc H, sinh năm 2002; vắng mặt.
- Cư trú tại: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- - Bị đơn: anh Nghi Quốc T, sinh năm 1993; vắng mặt.
- Cư trú tại: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Ngọc H trình bày:
Chị và anh Nghi Quốc T chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhà cha, mẹ ruột của anh T tại phường T, thị xã T. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, không thể hiểu và thông cảm cho nhau, thường xuyên gây gỗ nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài và trở nên nghiêm trọng kể từ khi chị sinh con, giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên gây gỗ nhau. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ tháng 6/2019 đến nay, không còn chung sống và quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hàn gắn. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh T.
Về con chung: vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Nghi Thiên K, sinh ngày 05/5/2019 hiện đang sống chung với chị. Cháu K rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh gì. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vợ chồng chị không nợ ai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh Nghi Quốc T đến Toà án lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh T đều vắng mặt nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh T.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Lê Ngọc H đối với anh Nghi Quốc T. Chị H được ly hôn anh T.
Về con chung: đề nghị giao cháu Nghi Thiên K, sinh ngày 05/5/2019 cho chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: chị H, anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: chị H trình bày không có nợ.
Về án phí: chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: chị Lê Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nghi Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T vào năm 2022. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ, chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày là do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, thường gây gỗ nhau và vợ chồng chị H, anh T đã tự ly thân từ tháng 6/20219 đến nay. Nay chị H yêu cầu được ly hôn anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, triệu tập hợp lệ anh T nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt, không gửi bản tự khai cho Tòa án, cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn cùng chị H. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, chị H đều giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, không muốn hàn gắn với anh T, cho thấy đời sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ giữa chị H và anh T đã không còn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T, cho chị H được ly hôn anh T là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: vợ chồng chị H, anh T có 01 con chung là cháu Nghi Thiên K, sinh ngày 05/5/2019. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục dưỡng cháu K. Xét thấy từ khi chị H và anh T ly thân thì cháu K theo sống cùng chị H, cháu K phát triển rất tốt về mặt thể chất lẫn tinh thần. Do đó, để đảm bảo được sự phát triển toàn diện và ổn định về tinh thần, nơi ở của cháu K, Hội đồng xét xử giao cháu K cho chị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: chị H, anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: chị H trình bày không có nợ.
[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[6] Án phí: chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Ngọc H đối với anh Nghi Quốc T.
- Về con chung: giao cháu Nghi Thiên K, sinh ngày 05/5/2019 cho chị Lê Ngọc H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về tài sản chung: chị H, anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: chị H trình bày không có nợ.
- Án phí: chị Lê Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012067 ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị H, anh T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Chị Lê Ngọc H được ly hôn anh Nghi Quốc T.
Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) NGUYỄN THỊ MINH THƯ |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc H ly hôn Nghi Quốc Th
