|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-3-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khởi
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Dương
- Ông Phạm Minh Giới
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 803/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024, về Tranh chấp hôn nhân và gia đình (xin ly hôn, nuôi con), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thi H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khóm H, thị Trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; chổ ở hiện nay: Số A, đường T, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 12/12/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn Trần Thị H1 trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn Nguyễn Văn T tìm hiểu một thời gian tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đến Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết số: 97/2016 ngày 20/12/2016. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau như trước. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, nên hôn nhân không còn hạnh phúc, do đó vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay.
Nay nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn với bị đơn, xin được nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung là Nguyễn Trần Kim A; giới tính nữ; sinh ngày 04 tháng 11 năm 2016. Thời gian chung sống không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn Nguyễn Văn T: Quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến, nên không có lời trình bày, lời khai của bị đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; Về con chung giao cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng; Về việc cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn T, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi trú tại huyện P, tỉnh Hậu Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tổ chức lễ cưới theo truyền thống và đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp.
[5] Về mâu thuẫn: Quá trình chung sống, do bất đồng ý kiến, không hợp về tính cách, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải, để tạo điều kiện hàn gắn vợ chồng, nhưng bị đơn không đến Tòa án tham gia hòa giải và cả hai vợ, chồng vẫn sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn là có cơ sở, phù hợp với tình trạng hôn nhân của vợ chồng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn với bị đơn.
[6] Về con chung: Cháu Nguyễn Trần Kim A, từ khi ly thân đến nay, nguyên đơn trực tiếp nuôi con chung và cháu Kim A có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Nên giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[7] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[9] Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Nguyên đơn Trần Thị H1 được ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Kim A, giới tính nữ, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2016 cho nguyên đơn Trần Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu Nguyễn Trần Kim A đủ 18 (mười tám) tuổi. Bị đơn Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001619 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bị đơn Nguyễn Văn T, không ai được quyền ngăn cản.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hồ Văn Khởi |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
