TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 6 - 2025 V/v: “Xin ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Ông Phạm Quang Vinh
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng. Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Bích Hợp - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 915/2024/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 77/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm:1992.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hiện đang tạm trú tại: Số A T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Bị đơn: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm: 1988Nguyễn Thành Hộ.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang tạm trú tại: Số A T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày, chị và anh Vũ Văn Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2010, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng đến năm 2012 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được khoảng 07- 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng không hợp nhau, anh Đ không tôn trọng chị và chăm lo cho cuộc sống chung của gia đình nên cuộc sống chung của vợ chồng không được hạnh phúc. Vì vậy, từ tháng 11/2024 cho đến nay vợ chồng chị đã sống ly thân nhau, chị đã chuyển ra ngoài thuê trọ ở chỗ khác không còn chung sống với anh Đ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Đ không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn Đ.
Về con chung, chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Anh T, sinh ngày 07/08/2010, hiện nay đang ở với anh Đ. Khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng được nuôi con và cháu T cũng có nguyện vọng được ở với anh Đ thì chị cũng đồng ý giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị đề nghị để hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung, chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Văn Đ trình bày, anh và chị V lấy nhau trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh chưa chăm lo cho kinh kế gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Cuối năm 2024, chị V đã chuyển ra ngoài thuê nhà trọ sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi chị V chuyển ra ngoài thuê trọ ở anh cũng không gặp gỡ để khuyên bảo chị V về chung sống lại với anh và con. Nay chị V làm đơn xin ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng với chị V vẫn còn và cũng vì con nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung, anh xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Anh T, sinh ngày 07/08/2010. Nếu chị V cương quyết xin ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi con. Về việc cấp dưỡng nuôi con, anh đề nghị để hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung, anh xác định vợ chồng tôi không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa, chị V xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Đ. Về con chung, chị V đồng ý giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị để hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, các đương sự và Hội đồng xét xử. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị V. Về con chung, giao con chung là Vũ Anh T cho anh Đ có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con chị V, anh Đ yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Vũ Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa hôm nay nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt bị đơn ông T1 theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Vũ Văn Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2010, trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng không hợp nhau, anh Đ không chăm lo cho cuộc sống chung của gia đình dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc. Từ cuối năm 2024 cho đến nay chị V đã chuyển ra ngoài thuê phòng trọ sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân nhau. Tại phiên toà, chị V xác định không còn tình cảm với anh Đ nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Còn anh Đ thì trong quá trình giải quyết vụ án có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình, không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị V. Tuy nhiên, từ khi chị V chuyển ra ngoài thuê phòng trọ sinh sống cho đến nay anh Đ cũng không có động thái nào để cải thiện quan hệ tình cảm vợ chồng. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị V, xử cho chị Trần Thị V và anh Vũ Văn Đ được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: Chị V và anh Đ có 01 con chung là Vũ Anh T, sinh ngày 07/08/2010. Khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng được nuôi con, chị V cũng đồng ý giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu Anh T đang ở với anh Đ và cháu T cũng có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý của con cũng như chỗ ở và tôn trọng nguyện vọng của con cần tiếp tục giao con chung là Vũ Anh T cho anh Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con là hoàn toàn phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị V và anh Đ yêu cầu để hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị V và anh Đ cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét.
[5] Về án phí: Chị V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trần Thị V, xử cho chị Trần Thị V và anh Vũ Văn Đ được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là Vũ Anh T, sinh ngày 07/08/2010 cho anh Vũ Văn Đ có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị V và anh Đ yêu cầu để hai bên tự thoả thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001634 ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, chị V đã nộp đủ án phí.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
5
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vân xin ly hôn anh Điệp
