Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 09 - 4 - 2025.

V/v: “ Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Lưu Thị Thanh Nhâm.

Bà Đoàn Thị Dịu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1997.

Trú tại: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 2001.

Trú tại: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Anh T có đơn xin vắng mặt. Chị N vắng mặt lần 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Văn T trình bày:

Anh kết hôn với chị Phạm Thị N ngày 13 tháng 3 năm 2019 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh xin ly hôn chị N để yên tâm ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh T và chị N có với nhau 03 con chung, Phạm Đức D, sinh ngày 01/10/2018, cháu Phạm Thị Anh T1, sinh ngày 07/12/2019; cháu Phạm Gia H sinh ngày 31/7/2023. Anh T và chị N đã thống nhất anh T nuôi cháu Phạm Đức D, cháu Phạm Thị Anh T1. Chị N nuôi cháu Phạm Gia H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Chị Phạm Thị N có bản tự khai trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung như anh T trình bày.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70; 71 BLTTDS.

Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt để tham gia hoà giải và vắng mặt tại phiên tòa, vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các điều 70; 72 BLTTDS.

Tòa án hoãn phiên tòa do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, mở lại phiên tòa lần thứ hai xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227; 233; 238 BLTTDS.

Về nội dung: Xét thấy hôn nhân giữa anh T và chị N đã thực sự tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 55; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Văn T.

Về con chung: Giao cho anh T được quyền nuôi dưỡng cháu Phạm Đức D, sinh ngày 01/10/2018, cháu Phạm Thị Anh T1, sinh ngày 07/12/2019; Giao cho chị N nuôi cháu Phạm Gia H sinh ngày 31/7/2023. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: anh T, chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn: Anh T phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử nhận định, sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi các đương sự có đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

[2] Về tình cảm: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N kết hôn ngày 13 tháng 3 năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N đã thực sự tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được. HĐXX chấp nhận sự thuận tình xin ly hôn giữa anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N là phù hợp với quy định tại điều 51, 55 Luật HNGĐ.

[3] Về con chung: Giao cho anh T được quyền nuôi dưỡng cháu Phạm Đức D, sinh ngày 01/10/2018, cháu Phạm Thị Anh T1, sinh ngày 07/12/2019; Giao cho chị N nuôi cháu Phạm Gia H sinh ngày 31/7/2023. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí ly hôn: Anh Phạm Văn T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 55; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:

  1. Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N.
  2. Về con chung: Giao cho anh T được quyền nuôi dưỡng cháu Phạm Đức D, sinh ngày 01/10/2018, cháu Phạm Thị Anh T1, sinh ngày 07/12/2019; Giao cho chị N nuôi cháu Phạm Gia H sinh ngày 31/7/2023. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Án phí: Anh Phạm Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự. Đối trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004190 ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. anh T đã nộp xong tiền án phí.
  2. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

 

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Mạnh

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND xã/phường/thị trấn;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định về ly hôn

  • Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger