|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03-6-2025
V/v “Ly hôn và nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Đệ
- Bà Trần Thị Hà
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Thành Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐ-XX, ngày 28 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2025/QĐ-HPT ngày 31/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H - Sinh năm: 02/08/1978; Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; có mặt
- Bị đơn: ông Võ Văn T - Sinh năm: 30/12/1975; Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 09/01/2025 và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Vợ chồng bà lấy nhau năm 1996 và có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 38, quyển số I, ngày 27/03/2002 tại UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó chồng bà ông Võ Văn T thường hay ăn nhậu say sưa về nhà kiếm chuyện, chửi mắng xúc phạm, ghen tuông hành hung đánh đập vợ rất tàn nhẫn. Vì thương các con và để giữ cho gia đình hạnh phúc nên tôi đã cố gắng nhịn nhục, chịu đựng. Mặc dù tôi có khuyên ông T nhiều lần, nhưng đến nay ông vẫn tánh nào tật ấy, không thay đổi bản chất.
Bản thân bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà làm đơn này kính đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T.
Về con chung: Có 03 đứa con chung, gồm: Võ Thị P, sinh ngày: 28/05/1998 (Nữ); Võ Văn L, sinh ngày: 16/06/2001 (Nam); Võ Nguyễn Như Q, sinh ngày: 05/06/2005(Nữ). Các con bà hiện nay đều đã trưởng thành.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Văn T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Võ Văn T không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án;
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bà H được ly hôn với ông Võ Văn T.
Về con chung: Đã trưởng thành
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con đối với ông Võ Văn T, do đó đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Võ Văn T có nơi cư trú tại thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Qua xác minh tại Ban cán sự khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì ông Võ Văn T có hộ khẩu thường trú tại khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, do ông T không hợp tác, từ chối nhận giấy triệu tập. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông T theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông T vẫn không có mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung.
[3]. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H: Theo lời trình bày của bà H cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bà và ông Võ Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết năm 1996 và có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 38, quyển số I, ngày 27/03/2002 tại UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp.
Bà H cho rằng do ông Võ Văn T thường hay ăn nhậu say sưa về nhà kiếm chuyện, ghen tuông, chửi mắng xúc phạm, hành hung đánh đập bà rất tàn nhẫn, bà nhận thấy giữa bà và ông T mâu thuẫn đã trầm trọng không tự giải quyết được, nên bà bỏ về nhà cha mẹ bà ở, giao căn nhà do vợ chồng tạo lập cho ông T ở. Vợ chồng bà đã sống ly thân gần 01 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai. Vì vậy, bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T, nhưng ông từ chối nhận giấy triệu tập, không chấp hành khi Toà mời làm việc, sau khi lập biên bản về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải Toà đã tiến hành niêm yết công khai cho ông T thông báo kết quả hoà giải, để ông T thực hiện quyền của mình nhưng ông không phản hồi ý kiến đối với yêu cầu của bà H, điều này chứng tỏ ông T không có quan tâm gì đến mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà H và nghĩa vụ đối với con chung. Chứng tỏ ông T không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Võ Văn T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông T và bà H đã ly thân nhau một thời gian dài. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T2.
[4]. Về con chung: Các đã trưởng thành.
[5]. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét
[6]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.
[7]. Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án nên bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Võ Văn T. Bà H được ly hôn với ông T.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Bà H đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0007370 ngày 05/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 03/6/2025). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Văn Lấy |
Bản án số 49/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 49/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
