|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án 49/2025/HC-ST
Ngày: 04/4/2025
V/v: “Khiếu kiện Quyết định
hành chính về quản lý đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh -Thư ký Tòa án
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Phương L -
Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2024/TLST-HC Ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính về quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HC ngày 27 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST –HC ngày 14 tháng 03 năm 2025 và quyết định hoãn số 31/2025/QĐST –HC ngày 25 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị N, sinh năm 1962; Căn cước công dân số [...].
- Người bị kiện:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. ( có mặt)
Người đại diện theo Ủy quyền: Nguyễn Thị H, sinh năm 1985
Địa chỉ: Tổ dân phố A, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa (có mặt)
2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T;
Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T - Chủ tịch UBND tỉnh T. ( vắng mặt)
2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;
Địa chỉ: Tiểu khu A, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế A - Chủ tịch UBND thị xã N.
Đại diện theo ủy quyền: Trịnh Tiến D – Phó Chủ tịch UBND ( vắng mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
Ông Lê Hồng T1 - Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường thị xã; ( vắng mặt).
Ông Lê Văn S - Đội trưởng Đội kiểm tra Q ( có mặt)
Ông Mai Sỹ V - Viên chức Đội kiểm tra Q ( có mặt)
Địa chỉ: phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá T2 - Chủ tịch UBND phường X ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện, văn bản ý kiến và quá trình giải quyết tại Toà án bà Lê Thị N trình bày:
Năm 2001 vợ chồng tôi (chồng tôi là ông Nguyễn D1 chết năm 2008) có mua lại khu đất vườn nằm trong cùng thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thu V1 là bà Lê Thị N1 ở Xóm A Thôn D, xã X, huyện T (nay thuộc Thị xã N) với giá 1.500.000 (bằng chữ: Một triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).
Về nguồn gốc đất của gia đình ông T3, bà N1 đã có Giấy chứng nhận QSD đất ở do UBND huyện T cấp ngày 30/10/1994, thuộc thửa 01, TBĐ 41. Trong giấy chuyển nhượng đất ngày 28/2/2001 có ghi ranh giới: Phía Bắc giáp đập nước địa Đại thuỷ: Nam giáp đường L từ cây Bạch đàn lên phía Tây 19m; phía Đông từ cây bạch đàn đến cây dừa phía Bắc; phía Tây giáp đập nước đĩa Đại Thuỷ vườn ráng trên ngắm thẳng ra mương, tổng diện tích khoảng 665m². Trong giấy chuyển nhượng ông Nguyễn T3 và vợ là bà Lê Thị N1 có ghi rõ nhà tôi ông Nguyễn D1 được quyền làm vườn hoặc làm nhà ở, được Trưởng Thôn Dự Quần và UBND xã X xác nhận, đóng dấu.
Sau khi mua từ năm 2001 đến 2002 gia đình tôi đã xây được 04 căn nhà cấp bốn trên đất để vợ chồng và các con gái, con rể cùng ở trên đất. Đến năm 2006 chồng tôi ốm nên tôi đã bán bớt 5m chiều rộng chiều dài hết đất của gia đình tôi về phía Đông giáp nhà ông T3, bà N1 cho gia đình ông Hoàng Ngọc C để lấy tiền chữa bệnh cho chồng, ông C đã làm nhà cho con ở, sau đó bán lại cho người khác.
Quá trình tôi sử dụng đất và làm nhà gia đình tôi không bị cơ quan có thẩm quyền đến nhắc nhở hay lập Biên bản vi phạm hành chính. Năm 2014 thực hiện dự án đường Đ gia đình tôi được bồi thường tiền đất 7.000.000₫; năm 2017 dự án mở rộng đường Đ gia đình bị ảnh hưởng 45,9m² và phải phá dỡ công trình kiến trúc trên đất nên được bồi thường tiền đất là 45.280.350đ và bồi thường tiền nhà cửa cây cối được 143.886.350đ.
Do vậy sau khi bị thu hồi gia đình phải xây giật lùi nhà vào nên tôi phải tôn tạo làm lùi nhà về phía sau (nhà tôi được hỗ trợ 12 triệu để giật lùi nhà), nhưng gia đình khó khăn nên chưa làm được ngay mà mãi đến cuối 2018 mới làm nhà cụ thể tôi làm nhà xây gạch cớm lợp mái tôn trên diện tích khoảng hơn 100m² phía sau khu đất bị giải tỏa để ở.
Đến năm 2021 gia đình tôi có bỏ thêm móng trên phần đất còn lại phía sau tôi đã mua của nhà ông Nguyễn T3 thì UBND xã mới đến cho rằng tôi làm nhà trên đất nông nghiệp và bị Chủ tịch UBND thị xã N ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 10622/QĐ-XPVPHC ngày 17/9/2021 ( Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai về việc Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp với tổng diện tích 48,88m2 tại khu vực đô thị). Hình thức xử phạt hành chính là 8.000.000đ. Biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. ( tôi chưa nộp phạt số tiền này).
Và UBND thị xã N ra quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 1864/QĐ- CCXP ngày 28 tháng 3 năm 2023 ( Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả)
Gia đình tôi không đồng ý với các Quyết định nêu trên của Chủ tịch UBND thị xã N vì việc tôi xây dựng nhà cửa vật kiến trúc đều nằm trên khuôn viên tôi đã mua của nhà ông T3 và đã được UBND xã X xác nhận.
Tôi tiếp tục làm đơn khiếu nại, ngày 14/6/2023 Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 3462/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của tôi (lần 1) đã kết luận khiếu nại của tôi không có cơ sở.
Tôi tiếp tục làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh T. Ngày 15/9/2023 Chủ tịch UBND tỉnh T ban hành Quyết định số 3309/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của tôi (lần 2) cũng kết luận khiếu nại của tôi không có cơ sở.
Để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá giải quyết như sau:
- Hủy Quyết định số 3309/QĐ-UBND ngày 15/9/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị N, tổ dân phố D. phường X, thị xã N.
- Hủy Quyết định số 3462/QĐ-UBND ngày 14/6/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị N, địa chỉ Tổ dân phố D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Hủy Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N.
- Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 10622/QĐ-CCXP ngày 17/9/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N.
2. Ý kiến của người bị kiện UBND tỉnh T:
Nội dung khiếu nại
Bà Lê Thị N khiếu nại việc Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với gia đình bà Lê Thị N là không đúng quy định. Bà Lê Thị N khiếu nại thửa đất của gia đình bà được phép xây dựng công trình với lý do thửa đất có nguồn gốc chuyển nhượng từ đất vườn cùng thửa đất ở của ông Nguyễn T3, nội dung giấy chuyển nhượng thể hiện được phép xây dựng nhà ở và đã được chính quyền các cấp xác nhận.
Kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu của chủ tịch UBND thị xã N
Khiếu nại của bà Lê Thị Năm N đã được Chủ tịch UBND thị xã N giải quyết tại Quyết định số 3462/QĐ-UBND ngày 14/6/2023. Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thị xã N, bà Lê Thị N tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh
- * Việc giải quyết khiếu nại của bà hộ bà Lê Thị N của Chủ tịch UBND tỉnh T
- + Việc xử lý vi phạm của UBND phường T
Ngày 04/01/2021, UBND phường T lập Biên bản kiểm tra hiện trạng vi phạm về lĩnh vực đất đai số 01/BB-KTHT đối bà Lê Thị N, theo đó thể hiện: “Hiện trạng công trình vi phạm: xây dựng móng rộng 9,2m và 9,7m, dài 22,2m và 21,5m vật liệu xây bằng đá hộc và bỏ các mốc cột đã dựng sắt" và Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 02/BB-VPHC đối với "Hành vi lần, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị" của gia đình bà Lê Thị N.
UBND phường T lập Tờ trình số 06/TTr-UBND ngày 06/01/2021 trình Chủ tịch UBND thị xã N đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị N theo quy định.
- Ngày 15/01/2021, Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 463/QĐ-UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hộ bà Lê Thị
N với hành vi: “Lấn chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị", số tiền phạt là 5.000.000 đồng, biện pháp khắc phục hậu quả: "Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm; buộc trả lại đất đã lần, chiếm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; thời gian thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là 10 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này".
Trong quá trình xây dựng công trình thì UBND phường T đã phối hợp với Đội Kiểm tra quy tắc xây dựng tổ chức ngăn chặn hộ bà Lê Thị N xây dựng. Sau khi công trình xây dựng dùng được một thời gian thì đến tháng 9 năm 2021, gia đình bà Lê Thị N lại tiếp tục xây dựng, hoàn thiện công trình và đưa vào sử dụng.
- Ngày 08/9/2021, UBND phường T đã có Tờ trình số 687/TT UBND gửi Chủ tịch UBND thị xã N về việc đề nghị cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị N.
- + Việc xử lý vi phạm của UBND phường X
Ngày 10/9/2021, UBND phường X lập Biên bản kiểm tra hiện trạng vi phạm lĩnh vực đất đai số 57/BB-KTHT đối với hộ bà Lê Thị N, theo đó thể hiện: "Hiện trạng vi phạm: Xây dựng móng nhà trên đất nông nghiệp (đất vườn, cây lâu năm), tổng diện tích vi phạm (5,8+7,0) x 6,7=42,88m² và Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 53/BB-VPHC ngày 10/9/2021 đối với bà Lê Thị N đã có hành vi vi phạm hành chính: "Chuyên đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị".
UBND phường X đã lập Tờ trình số 93/TTr-UBND ngày 10/9/2021 trình Chủ tịch UBND thị xã N đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị N.
Ngày 17/9/2021, UBND thị xã N đã ban hành Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị N vì đã có hành vi "Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp với tổng diện tích là 42,88m² tại khu vực đô thị mà không được cơ quan có thần quyền cho phép” với số tiền 8.000.000 đồng, biện pháp khắc phục hậu quả: "Buộc khôi phục lại tỉnh trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm: buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; thời gian
thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả là 10 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này".
Theo báo cáo của UBND phường X: Sau khi Quyết định xử phạt được ban hành, UBND phường X phối hợp với Đội kiểm tra quy tắc xây dựng tiến hành bàn giao Quyết định xử phạt cho bà Lê Thị N, nhưng bà Lê Thị N không có mặt tại địa phương nên UBND phường X đã gửi bảo đảm Quyết định qua đường Bưu điện và con gái bà Lê Thị N đã nhận Quyết định ngày 25/9/2021.
Ngày 13/10/2021, UBND phường X ban hành Thông báo số 37/TB-UBND về việc yêu cầu thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bà Lê Thị N vẫn vắng mặt và gia đình bà N báo cáo đã có đơn khiếu nại quyết định xử phạt gửi về UBND thị xã để giải quyết nên chưa thực hiện quyết định xử phạt.
Ngày 23/12/2021, UBND phường X lập Tờ trình số 131/TTr-UBND gửi Chủ tịch UBND thị xã N về việc đề nghị cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N.
- * Việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với hộ bà Lê Thị N.
- Ngày 13/3/2023, Đội kiểm tra quy tắc xây dựng có Tờ trình số 27/TTr- QTXD đề nghị Chủ tịch UBND thị xã N ban hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N ở tổ dân phố D, phường X, thị xã N.
- Ngày 28/3/2023, Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1864/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị N:
- + Do đã có hành vi vi phạm hành chính: “Lấn chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị: chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp với tổng diện tích là 42,88m² tại khu vực đô thị":
- + Hành vi vi phạm hành chính gây ra cần được khắc phục là: “Đã xây dựng công trình trên đất chưa sử dụng do UBND phường quản lý, công trình có chiều
rộng 9,7m, chiều dài 22m và xây dựng nhà ở trên phần đất nông nghiệp với diện tích 42,88m²".
- + Biện pháp khắc phục hậu quả phải thực hiện: "Buộc tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; buộc nộp lại số lợi bất hợp hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm".
- * Hồ sơ địa chính liên quan đến thửa đất có vi phạm
- + Hồ sơ địa chính phường X
Theo bản đồ địa chính phê duyệt năm 1999: Vị trí thửa đất có vi phạm thuộc một phần thửa đất số 252, tờ bản đồ số 09, diện tích 1.880m²; số mục kê ghi ông Nguyễn T3, loại đất T (thổ cư).
- Theo bản đồ hiện trạng năm 2011: Vị trí thửa đất có vi phạm thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 109, diện tích 2.401,7m²; chủ sử dụng là ông Nguyễn T3, loại đất ONT.
- + Hồ sơ địa chính phường Trúc Lâm
Theo bản đồ địa chính phê duyệt năm 1999: Vị trí thửa đất có vi phạm thuộc một phần thửa đất số 1002, tờ bản đồ số 03, loại đất Mn/Hg (mặt nước hoang), số mục kê ghi chủ sử dụng là UBND phường T.
Theo bản đồ hiện trạng năm 2011: Vị trí thửa đất có vi phạm thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28, loại đất MNC (mặt nước chuyên dùng), chủ sử dụng là UBND phường T.
- * Nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất có vi phạm của bà Lê Thị N
Ngày 28/02/2001, ông Nguyễn T3 có đơn xin chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn D1 (chồng bà Lê Thị N). Phần chuyển nhượng là “mảnh đất vườn phía Tây nhà" ông Nguyễn Thu . Nội dung xác nhận của UBND xã X ngày 03/3/2001 do ông Hoàng Văn Đ ký là "đồng ý cho gia đình ông Nguyễn T3 được chuyển nhượng đất vườn cho ông Nguyễn D1".
Theo báo cáo của UBND thị xã N: Công trình bả Lê Thị N xây dựng bị buộc thực hiện biện pháp cưỡng chế là nhà lợp mái tôn sử dụng để thu mua phế liệu. Bà Lê Thị
N không sinh sống trên thửa đất có công trình vi phạm. Hiện nay, bà Lê Thị N đang sinh sống tại một thửa đất khác là thừa số 29, tờ bản đồ số 115, bản đồ hiện trạng năm 2011 tại thôn D, phường X, thị xã N.
Căn cứ Hồ sơ địa chính và nguồn gốc sử dụng đất của bà Lê Thị N cho thấy: Thửa đất gia đình bà Lê Thị N xây dựng công trình bị xử phạt vi phạm hành chính nằm trên địa giới hành chính của 02 phường là phường X và phường T:
Phần công trình nằm trên địa giới hành chính phường X: Thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 109 bản đồ hiện trạng phường X năm 2011; có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Thu . Diện tích nhận chuyển nhượng là đất vườn cùng thửa với đất ở không được công nhận là đất ở. Sau khi nhận chuyển nhượng đến nay, phần diện tích đất vườn bà Lê Thị N nhận chuyển nhượng vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sang đất ở,
Việc bà Lê Thị N xây dựng một phần công trình trên thửa đất nông nghiệp khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép là vi phạm quy định tại Khoản 3, Điều 12, Luật Đất đai năm 2013 đối với những hành vi bị nghiêm cẩm: "Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích”; quy định Điểm d, Khoản 1, Điều 57, Luật Đất đai năm 2013: "Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp".
Việc UBND phường X lập Biên bản xử phạt vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC ngày 17/9/2021 đối với bà Lê Thị N vì hành vi: "Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp với tổng diện tích là 42.88m² tại khu vực đô thị mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép" là đúng quy định tại Khoản 3, Điều 11, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: “Sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất rừng phòng hộ, không phải là đất rừng đặc dụng, không phải là đất rừng sản xuất vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các điểm b
và ở khoản 1 Điều 57 của Luật đất đai: chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị thì hình thức và mức xử phạt bằng 02 lần mức phạt quy định tại khoản 2 Điều này".
Phần công trình nằm trên địa giới hành chính phường T: Thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28, bản đồ hiện trạng phường T năm 2011, loại đất MNC (mặt nước chuyên dùng), chủ sử dụng là UBND phường T.
Việc bà Lê Thị N xây dựng một phần công trình trên đất mặt nước chuyên dùng do UBND phường T quản lý là vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 12, Luật Đất đai năm 2013 đối với những hành vi bị nghiêm cấm là: “Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai”,
Việc UBND phường T lập biên bản vi phạm hành chính và Chủ tịch UBND thị xã N ban hành hành Quyết định số 463/QĐ-XPVPHC ngày 15/01/2021 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N đối với hành vi: “Lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị” là đúng quy định tại Khoản 5, Điều 14, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: "Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này) tại khu vực đô thị Việc bà Lê Thị N xây dựng một phần công trình trên đất mặt nước chuyên dùng do UBND phường T quản lý là vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 12, Luật Đất đai năm 2013 đối với những hành vi bị nghiêm cấm là: “Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai”.
Việc UBND phường T lập biên bản vi phạm hành chính và Chủ tịch UBND thị xã N ban hành hành Quyết định số 463/QĐ-XPVPHC ngày 15/01/2021 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N đối với hành vi: “Lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị” là đúng quy định tại Khoản 5, Điều 14, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: "Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này) tại khu vực đô thị thì mức xử phạt bằng 02 lần mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này...". Sau khi Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 10622/QĐ-XPVPHC ngày 17/9/2021, Quyết định số 463/QĐ-XPVPHC ngày 15/01/2021 của Chủ tịch UBND thị xã N có hiệu lực, UBND phường X, phường T phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức vận động nhưng gia đình bà Lê Thị N không tự nguyện thi hành. Sau khi hết thời gian 10 ngày buộc thực hiện khắc phục hậu quả, gia đình bà Lê Thị N vẫn không tự nguyện thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 86, Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020: "Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong các trường hợp sau đây: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại Điều 73 của Luật này". Đối chiếu với các quy định của pháp luật nêu trên, việc Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Lê Thị N là đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, Chủ tịch UBND tỉnh T ban hành Quyết định số 3309/QĐ-UBND ngày 15/9/2023 về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Lê Thị N đảm bảo khách quan, đúng theo quy định của pháp luật.
3. Ý kiến của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ý kiến của UBND thị xã N trình bày:
Hồi 07 giờ 45 phút, ngày 10/9/2021 Tổ kiểm tra quy tắc xây dựng phường X kiểm tra, phát hiện hộ gia đình bà Lê Thị N đang tổ chức thi công móng nhà trên đất sản xuất nông nghiệp. Tổ Kiểm tra đã tiến hành lập biên bản kiểm tra hiện trạng, lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hành vi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đồng thời hoàn thiện hồ sơ trình chủ tịch UBND thị xã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.
Ngày 17/9/2021, UBND thị xã N đã ban hành Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị N vì đã có hành vi: “Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP với số tiền 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) đồng thời
buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: " Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm”, thời gian thực hiện khắc phục hậu quả là 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định xử phạt.
Sau khi nhận được quyết định xử phạt, UBND phường X phối hợp với Đội KTQTXD tiến hành bàn giao quyết định xử phạt cho bà Lê Thị N, nhưng bà Lê Thị N không có mặt tại địa phương nên UBND phường X đã gửi bảo đảm quyết định qua đường Bưu điện và con gái bà N đã nhận quyết định ngày 25/9/2021.
Ngày 13/10/2021, UBND phường X ban hành Thông báo số 37/TB-UBND về việc yêu cầu thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bà Lê Thị N vẫn vắng mặt và gia đình bà N báo cáo đã có đơn khiếu nại quyết định xử phạt gửi về UBND thị xã để giải quyết nên chưa thực hiện quyết định xử phạt.
Ngày 23/12/2021, UBND phường X có Tờ trình số 131/TTr-UBND gửi UBND thị xã N về việc đề nghị cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N. Trên cơ sở nội dung đề nghị của UBND phường X và Đội kiểm tra quy tắc xây dựng thị xã, Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với gia đình bà Lê Thị N (địa chỉ tại tổ dân phố D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa). Tuy nhiên, Bà N không đồng ý nội dung Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và cho rằng, thửa đất gia đình được phép xây dựng công trình do có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn T3, trong nội dung giấy chuyển nhượng có thể hiện bà được xây dựng nhà và giấy chuyển nhượng đã được chính quyền các cấp xác nhận.
* Theo báo cáo UBND phường Xuân Lâm
Hồi 07 giờ 45 phút ngày 10/9/2021, Tổ kiểm tra quy tắc xây dựng phường X kiểm tra, phát hiện hộ gia đình bà Lê Thị N đang tổ chức thi công móng nhà trên đất sản xuất nông nghiệp. Tổ Kiểm tra đã tiến hành lập biên bản kiểm tra hiện trạng, lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hành vi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đồng thời hoàn thiện hồ sơ trình chủ tịch UBND thị xã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.
Ngày 17/9/2021, UBND thị xã N đã ban hành Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Lê Thị N vì đã có hành vi: “ Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp tại khu vực đô thị” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP với số tiền 8.000.000₫ (Tám triệu đồng) đồng thời buộc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: “ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm", thời gian thực hiện khắc phục hậu quả là 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định xử phạt.
Sau khi nhận được quyết định xử phạt, UBND phường X phối hợp với Đội Kiểm tra quy tắc đô thị tiến hành bàn giao quyết định xử phạt cho bà Lê Thị N, nhưng bà Lê Thị N không có mặt tại địa phương nên UBND phường X đã gửi bảo đảm quyết định qua đường Bưu điện và con gái bà N đã nhận quyết định ngày 25/9/2021.
Ngày 13/10/2021 UBND phường X ban hành Thông báo số 37/TB-UBND về việc yêu cầu thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bà Lê Thị N vẫn vắng mặt và gia đình bà N báo cáo đã có đơn khiếu nại quyết định xử phạt gửi về UBND thị xã để giải quyết nên chưa thực hiện quyết định xử phạt.
Ngày 23/12/2021, UBND phường X có Tờ trình số 131/TTr-UBND gửi UBND thị xã N về việc đề nghị cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N.
Vị trí thửa đất xây dựng có nguồn gốc: Năm 2001, ông Nguyễn D1 (chồng bà Lê Thị N) có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn T3 và được UBND xã X xác nhận ngày 03/3/2001.
Theo đơn chuyển nhượng đất của ông Nguyễn T3 cho ông Nguyễn D1 ngày 28/02/2001, trong đơn ghi rõ là chuyển nhượng đất vườn. Nội dung xác nhận của UBND xã X ngày 03/3/2001 do ông Hoàng Văn Đ ký là đồng ý cho ông Nguyễn T3 chuyển nhượng đất vườn cho ông Nguyễn Doan .1 Từ ngày nhận chuyển nhượng đến nay, gia đình ông D1 - bà N chưa có hồ sơ và chưa có quyết định của cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với thửa đất trên sang đất ở. Vì vậy, đất mà gia đình ông D1 - bản Năm nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn T3 không có đất ở.
Theo bản đồ hiện trạng năm 2011 thì vị trí bà năm xây dựng công trình thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 109, chủ sử dụng là ông Nguyễn T3, loại đất ONT.
Theo bản đồ địa chính năm 1999 thì công trình bà N xây dựng thuộc một phần thửa đất số 252, tờ bản đồ số 09, số mục kê ghi ông Nguyễn T3, loại đất T (thổ cư).
* Theo báo cáo UBND phường Trúc Lâm
Theo tường trình của ông Phạm Văn T4, Công chức Địa chính - Xây dựng - Môi trường phường T:
Ngày 04/01/2021, UBND phường T phát hiện hộ gia đình bà N đang xây dựng móng nhà, UBND phường đã lập biên bản kiểm tra hiện trạng số 01/BB-KTHT và Biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 04/01/2021 về lĩnh vực đất đai đối với hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP, đồng thời UBND phường hoàn thiện hồ sơ trình chủ tịch UBND thị xã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định.
Trong quá trình xây dựng công trình thì UBND phường đã phối hợp với Đội Kiểm tra quy tắc xây dựng, UBND phường T tổ chức ngăn chặn hộ gia đình xây dựng. Sau khi công trình xây dựng dừng được một thời gian thi đến tháng 9 năm 2021, gia đình bà N lại tiếp tục xây dựng, hoàn thiện công trình và đưa công trình vào sử dụng.
UBND phường khẳng định hộ gia đình bà N xây dựng công trình trên đất mặt nước chuyên dùng (đất do UBND phường quản lý) là vi phạm, việc UBND phường lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vì lần, chiếm đất của bà N là đúng quy định của pháp luật.
Theo bản đồ hiện trạng năm 2011 thì vị trí bà N xây dựng công trình trên thửa đất mà hiện nay gia đình đang khiếu nại được xác định thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28, loại đất MNC (mặt nước chuyên dùng), chủ sử dụng là UBND phường T.
Theo bản đồ địa chính năm 1999 thì công trình bà N xây dựng trên thửa đất mà hiện nay gia đình đang khiếu nại được xác định thuộc một phần thửa đất số 1002
deg tờ bản đồ số 03, loại đất Mn/Hg (mặt nước hoang), số mục kê ghi UBND phường T quản lý.
- * Làm việc với người có liên quan: Bà Lê Thị N1 (vợ ông Nguyễn T3) Theo trình bày của bà Lê Thị N1 (vợ ông Nguyễn T3) năm 2001 gia đình bà có chuyển nhượng cho ông Nguyễn D1 (chồng bà Lê Thị N) một phần đất vườn cùng thửa đất ở, có chiều rộng bám mặt đường L là 5m, chiều dài là 19m. Bà Lê Thị N1 khẳng định gia đình bà không bán đất ở cho ông Nguyễn D1 (chồng bà Lê Thị N) mà chỉ bán một phần đất vườn của gia đình cho ông Nguyễn Doan .1
Tại buổi làm việc bà Lê Thị N1 cung cấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản phô tô thường): Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575/QSDĐ cấp ngày 30/10/1994 do UBND huyện T cấp khu đất thuộc tờ bản đồ số 4 thửa đất số 41, diện tích 999m ^ 2 (trong đó có 200m2 đất ở và 799m ^ 2 đất vườn.
- * Xem xét hồ sơ địa chính
- Đối với phần diện tích chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, phần đất thuộc địa giới hành chính phường X:
Theo bản đồ hiện trạng năm 2011 thì vị trí bà năm xây dựng công trình thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 109, chủ sử dụng là ông Nguyễn T3, loại đất ONT.
Theo bản đồ địa chính phê duyệt năm 1999 thì công trình bà N xây dựng thuộc một phần thửa đất số 252, tờ bản đồ số 09, số mục kê ghi ông Nguyễn T3, loại đất T (thổ cư).
Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575/QSDĐ cấp ngày 30/10/1994 do UBND huyện T cấp khu đất thuộc tờ bản đồ số 4 thửa đất số 41, diện tích 999m ^ 2 (trong đó có 200m2 đất ở và 799m ^ 2 đất vườn.
- Đối với phần diện tích đất bà N lần, chiếm đất chưa sử dụng do UBND phường quản lý, phần đất thuộc địa giới hành chính phường Trúc Lâm:
Theo bản đồ hiện trạng năm 2011 thì vị trí bà N xây dựng công trình trên thửa đất mà hiện nay gia đình đang khiếu nại được xác định thuộc một phần thửa đất số
05, tờ bản đồ số 28, loại đất MNC (mặt nước chuyên dùng), chủ sử dụng là UBND phường T.
Theo bản đồ địa chính năm 1999 thì công trình bà N xây dựng trên thửa đất mà hiện nay gia đình đang khiếu nại được xác định thuộc một phần thửa đất số 1002", tờ bản đồ số 03, loại đất Mn/Hg (mặt nước hoang), sổ mục kê ghi UBND phường T.
Qua xem xét hồ sơ địa chính thì thấy rằng:
Phần đất gia đình bà Lê Thị N đã xây dựng một phần công trình nhà ở mà gia đình đang khiếu nại thuộc một phần thửa đất đã được Nhà nước đã công nhận QSD đất cho ông Nguyễn Thu . Năm 2001 gia đình ông Nguyễn T3 có chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn D1 (ông D1 là chồng bà Lê Thị N) một phần đất vườn cùng với thửa đất ở nhưng không chuyển nhượng diện tích đất ở và một phần công trình nhà ở được xây dựng trên phần đất mặt nước chuyên dùng do UBND phường T quản lý, thuộc một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28, loại đất MNC (mặt nước chuyên dùng), chủ sử dụng là UBND phường T.
- * Xem xét biên bản xét nguồn gốc đất của xã X (nay là phường X) khi thực hiện dự án đường Đ kéo dài ngày 09/02/2017.
Đối với phần diện tích chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, phần đất thuộc địa giới hành chính phường X:
Nguồn gốc thửa đất bà N đã xây dựng công trình mà hiện nay gia đình đang khiếu nại. Theo bản đồ địa chính phê duyệt năm 1999 thì công trình bà N xây dựng thuộc một phần thửa đất số 252, tờ bản đồ số 09, số mục kê ghi ông Nguyễn T3, loại đất T (thô cư) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575/QSDĐ cấp ngày 30/10/1994 do UBND huyện T cấp khu đất thuộc tờ bản đồ số 4 thửa đất số 41, diện tích 999m² (trong đó có 200m² đất ở và 799m² đất vườn. Năm 2001 hộ ông Nguyễn T3 có chuyển nhượng lại một phần đất vườn cho ông Nguyễn D1 (chồng bà N). Khi thực hiện dự án Đường Đ kéo dài UBND xã X (Nay là phường X) đã tổ chức hội nghị ngày 09/02/2017 để xác định nguồn gốc, loại đất trong phạm vi thu hồi. UBND xã X đã xác định tại biên bản hội nghị xác định nguồn gốc, loại đất, thời điểm sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa đất ở không được công nhận là đất ở.
UBND xã X (nay là phường X) xác định một phần thửa đất bà Lê Thị N đã xây dựng toàn bộ công trình mà hiện nay đang khiếu nại là đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa đất ở không được công nhận là đất ở.
- * Về hồ sơ xử lý vi phạm
Hồ sơ xử lý vi phạm hành chính do UBND phường X lập
Biên bản kiểm tra hiện trạng công trình xây dựng vi phạm về lĩnh vực đất đai số 57/BB-KTHT ngày 10/9/2021 của UBND phường X.
Biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng số 53/BB-VPHC ngày 10/9/2021 của UBND phường X.
Tờ trình số 93/TTr-UBND ngày 10/9/2021 của UBND phường X về việc đề nghị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N, tổ dân phố D, phường X, thị xã N.
Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC ngày 17/9/2021 của Chủ tịch UBND thị xã N về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N về hành vi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.
Hồ sơ xử lý vi phạm hành chính do UBND phường T lập
Biên bản kiểm tra hiện trạng công trình xây dựng vi phạm về lĩnh vực đất đai số 01/BB-KTHT ngày 04/01/2021 của UBND phường T.
Biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng số 02/BB-VPHC ngày 04/01/2021 của UBND phường T.
Tờ trình số 06/TTr-UBND ngày 06/01/2021 của UBND phường T về việc đề nghị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Quyết định số 463/QĐ-XPVPHC ngày 15/01/2021 của Chủ tịch UBND thị xã N về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N về hành vi Lấn chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực đô thị.
Tờ trình số 27/TTr-QTXD ngày 13/3/2023 của Đội kiểm tra quy tắc xây dựng về việc đề nghị ban hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N, tại tổ dân phố D, phường X.
Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Qua xem xét hồ sơ, tài liệu, kết quả làm việc với người khiếu nại, UBND phường X, UBND phường T, người có liên quan và các chứng cứ hiện có, thì:
Công trình xây dựng của bà Lê Thị N bị xử lý vi phạm hành chính mả gia đình đang khiếu nại được xây dựng trên một phần thửa đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn T3 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575/QSDĐ cấp ngày 30/10/1994 do UBND huyện T cấp khu đất thuộc tờ bản đồ số 4 thửa đất số 41, diện tích 999m² (trong đó có 200m² đất ở và 799m² đất vườn”. Năm 2001, ông Nguyễn T3 có chuyển nhượng lại một phần đất vườn cho ông Nguyễn D1 (ông Nguyễn D1 là chồng bà Lê Thị N) để sử dụng và một phần công trình bị xử lý vi phạm hành chính được bà năm xây dựng trên phần đất mặt nước chuyên dùng do UBND phường T quản lý. Năm 2021, bà Lê Thị N xây dựng công trình bị UBND phường T và UBND phường X lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND thị xã N ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Khi quyết định hành chính đã có hiệu lực thi hành, UBND phường T, phường X phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức vận động hộ gia đình thực hiện các Quyết định hành chính đã có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, hộ gia đình bà Lê Thị N cố tình không thực hiện. Trên cơ sở báo cáo của UBND phường và đề nghị của Đội kiểm tra quy tắc xây dựng, Chủ tịch UBND thị xã đã ban hành Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Đối chiếu Khoản 1 Điều 11; Khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013, thì: phần diện tích đất bà Lê Thị N xây dựng công trình nhà ở thuộc một phần thửa đất số 01, tờ bản đồ số 109, bản đồ hiện trạng phường X năm 2011 (phần đất nhận chuyển nhượng từ đất vườn của ông Nguyễn T3) là đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm trong cùng thửa đất ở không được công nhận là đất ở) và một phần công trình được xây dựng trên một phần thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28, bản đồ hiện trạng phường T năm 2011, loại đất MNC (mặt nước chuyên dụng), chủ sử dụng là UBND phường T.
Bà Lê Thị N xây dựng một phần công trình nhà ở trên đất nông nghiệp đất trồng cây hàng năm khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép là vi phạm quy định của pháp luật về đất đai quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 57 Luật đất đai năm 2013 và hành vi vi phạm trên phải bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo Điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và một phần công trình được xây dựng trên thửa đất mặt nước chuyên dùng do UBND phường T quản lý là vi phạm quy định của pháp luật về đất đai quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 12 Luật đất đai năm 2013 và hành vi vi phạm trên phải bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo Điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Căn cứ vào Điều 40 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ; Điều 38 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật sửa đổi bổ sung năm 2020): Việc UBND phường X lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi “Chuyển đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác sang đất phi nông nghiệp với tổng diện tích là 42,88m² tại khu vực đô thị mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”; văn cứ Biên bản vi phạm hành chính số 53 ngày 10/9/2021 Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC ngày 17/9/2021 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Lê Thị N về hành vi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp là đúng quy định của pháp luật. Quyết định số 10622/QĐ-XPVPHC ngày 17/9/2021 của Chủ tịch UBND thị xã N đã có hiệu lực thi hành, UBND phường X, phường T phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức vận động nhưng hộ gia đình không tự nguyên thi hành. Vì vậy, Chủ tịch UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng quy định của pháp luật.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N hủy các quyết định:
- Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 10622/QĐ-CCXP ngày 17/9/2021 của Chủ tịch UBND thị xã N.
- - Hủy Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N.
- Hủy Quyết định số 3462/QĐ-UBND ngày 14/6/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị N, địa chỉ Tổ dân phố D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Hủy Quyết định số 3309/QĐ-UBND ngày 15/9/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị N, tổ dân phố D, phường X, thị xã N.
[4]. Về án phí:
Bà Lê Thị N là người cao tuổi nên không phải chịu án phí HCST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- * Căn cứ: khoản 4 điều 32; khoản 1 điều 115; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3; điểm b khoản 2 điều 137; khoản 1 khoản 3 điều 158; điểm a khoản 2 điều 193; điều 204; khoản 1 điều 206 Luật tố tụng hành chính.
Khoản 1 Điều 11, khoản 3 Điều 12, điểm d Khoản 1 Điều 57 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 2 Điều 11, Điều 40 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ; Điều 17, Điều 18, Điều 21 Luật khiếu nại 2011; Điều 28, Điều 38; Điều 58, Điều 65, Điều 85, Điều 86, Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N về:
- Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai số 10622/QĐ-CCXP ngày 17/9/2021 của Chủ tịch UBND thị xã N.
- Hủy Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 1864/QĐ-CCXP ngày 28/3/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N.
- Hủy Quyết định số 3462/QĐ-UBND ngày 14/6/2023 của Chủ tịch UBND thị xã N về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị N, địa chỉ Tổ dân phố D, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Hủy Quyết định số 3309/QĐ-UBND ngày 15/9/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị N, tổ dân phố D, phường X, thị xã N.
- * Về án phí:
- Bà Lê Thị N không phải nộp án phí HCST
Án xử công khai sơ thẩm có mặt Người khởi kiện, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thị xã N; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường X. Người khởi kiện, người bị kiện Chủ tịch UBND thị xã N; UBND phường X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị kiện là Chủ tịch UBND tỉnh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận: - TAND, VKSND cấp cao Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Long |
Bản án số 49/2025/HC-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai
- Số bản án: 49/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính về quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai
