TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/DS-ST Ngày: 28-6 - 2025 Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
- 2. Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham dự phiên toà: Ông Huỳnh Phước Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2025, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2024/TLST-DS, ngày 18/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2025/QĐST- DS, ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần K; Trụ Sở: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, TỈNH Kiên Giang.
Đại diện theo pháp luật ông Trần Ngọc M – C: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền ông Lê Trung V – C: Phó tổng Giám đốc Người nhận ủy quyền lại ông Phạm Văn L – Chức Vụ: Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ. (Có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1983; bà Lê Thị T, sinh năm 1985; Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường M, Thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 5 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ngân hàng: Ông Phạm Văn L trình bày:
- Ngân hàng TMCP K (gọi tắt Ngân hàng K) đã ký với ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T, 01 hợp đồng tín dụng từng lần số 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022, theo hợp đồng Ngân hàng K đã cho ông H, bà T vay số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỷ, ba trăm triệu đồng). Mục đích hoàn vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thời hạn vay 240 tháng, thời hạn từ 03/6/2022 đến 02/6/2042, lãi suất cho vay là 12%/năm ( lãi suất cố định trong 03 kể từ ngày giải ngân), lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, mức phạt chậm trả 10%/năm, lãi vay, vốn gốc được trả ngày 02 hàng tháng theo dư nợ thực tế. Để bảo đảm khoản vay ông H, bà T có ký với Ngân hàng K 01 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0212/22/HĐTC-BĐS/0100-5057, ngày 31/5/2022 Tại văn phòng C, tài sản thế chấp là thửa đất số 99, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2084,1m². Tọa lạc tại ấp F, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BK 240408, số vào sổ CH 005518, Sở tài nguyên và môi trường cấp cho ông Nguyễn Văn H1 vào ngày 16/5/2022. Trong quá trình vay ông H1, bà T mới trả được số tiền gốc là 72.200.000 đồng, kể từ ngày 02/02/2024 ông H1, bà T vi phạm nghĩa vụ trả lãi và gốc như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hai bên ký kết, mặc du Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở yêu cầu ông H1, bà T trả nợ nhưng ông H1, bà T không thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa xem xét và giải quyết các yêu cầu, cụ thể:
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T phải trả lại cho Ngân hàng TMCP K, số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/6/2025 là 1.539.556.849 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, năm trăm năm mươi sáu ngàn, tám trăm bốn mươi chính đồng). Trong đó tiền gốc là 1.227.800.000 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn đồng), lãi trong hạn là 249.895.414 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm mười bốn đồng), lãi quá hạn là 3.353.818 đồng (Ba triệu, ba trăm năm mươi ba ngàn, tám trăm mười tám đồng), lãi chậm trả là 58.507.618 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm lẽ bảy ngàn, sáu trăm mười tám đồng). Ông H, bà T còn phải tiếp tục tính lãi từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng.
- Trường hợp ông H, bà T không thanh toán đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm gồm: thửa đất số 99, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2084,1m². Tọa lạc tại ấp F, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BK 240408, số vào sổ CH 005518, Sở tài nguyên và môi trường cấp cho ông Nguyễn Văn H1 vào ngày 16/5/2022. Nếu tài sản bảo đảm khi phát mãi không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông H1, bà T còn phải tiến tục trả cho đến khi kết nợ.
Trong quá trình giải quyết bị đơn ông Nguyễn Thế H trình bày: Ông H, bà T vay số tiền 1.300.000.000 đồng (Một tỷ, ba trăm triệu đồng) của ngân hàng K, nhưng ông H đã trả cho Ngân hàng được 01 khoản tiền gốc và còn thiếu Ngân hàng số tiền 1.227.800.000 đồng. Để bảo đảm khoản vay ông H, bà T có ký với Ngân hàng K 01 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0212/22/HĐTC-BĐS/0100-5057, ngày 31/5/2022 Tại văn phòng C, tài sản thế chấp là thửa đất số 99, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2084,1m². Tọa lạc tại ấp F, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BK 240408, số vào sổ CH 005518, Sở tài nguyên và môi trường cấp cho ông Nguyễn Văn H1 vào ngày 16/5/2022. Trong quá trình vay ông H1, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không có tiền trả cho Ngân hàng K gốc và lãi phát sinh. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T phải trả lại cho Ngân hàng TMCP K, số tiền gốc 1.227.800.000 và lãi lãi phát sinh thì ông H đồng ý, nhưng do điều kiện khó khăn nên ông H xin Ngân hàng 03 tháng để trả nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn bà Lê Thị T trình bày: Từ khi giải quyết vụ án đến khi xét xử Tòa án đã triệu tập nhiều lần để bà T lên hòa giải, trình bày ý kiến nhưng bà T không lên Tòa cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên Tòa:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp 01 bảng tính tiền gốc và lãi chi tiết của Ngân hàng đối với bị đơn tính đến ngày 27/6/2025
- Bị đơn ông H, bà T vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng, về thời hạn, chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình khi tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 303, 317, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K. Buộc ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng K tổng số tiền 1.539.556.849 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, năm trăm năm mươi sáu ngàn, tám trăm bốn mươi chính đồng). Trong đó tiền gốc là 1.227.800.000 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn đồng), lãi trong hạn là 249.895.414 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm mười bốn đồng), lãi quá hạn là 3.353.818 đồng (Ba triệu, ba trăm năm mươi ba ngàn, tám trăm mười tám đồng), lãi chậm trả là 58.507.618 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm lẽ bảy ngàn, sáu trăm mười tám đồng). ông H, bà T phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng K theo mức lãi thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng số: 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022, Trường hợp ông H, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình thì Ngân hàng có quyền tự mình hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp thửa đất số. thửa đất số 99, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2084,1m2. Tọa lạc tại ấp F, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BK 240408, số vào sổ CH 005518, Sở tài nguyên và môi trường cấp cho ông Nguyễn Văn H1 vào ngày 16/5/2022 để thu hồi nợ. Nếu tài sản bảo đảm khi phát mãi không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông H1, bà T còn phải tiến tục trả cho đến khi kết nợ.
Về án phí sơ thẩn và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ Đề nghị xem xét bị đơn ông H1, bà T phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 317 và Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 do Ngân hàng TMCP K khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2].Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T cư trú tại khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về hình thức, nội dung và thẩm quyền ký kết của Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số: 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022 được ký kết giữa ngân hàng K với ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do đó, về hình thức, nội dung, thẩm quyền ký kết của hợp đồng tín dụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, hợp đồng Tín dụng số 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022 giữa Ngân hàng K với ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T là hợp đồng hợp pháp. Vì vậy, các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
[2.2]. Về yêu cầu trả nợ gốc và lãi:
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong các hợp đồng tín dụng mặc dù đã được Ngân hàng trực tiếp gửi thông báo nợ đến hạn và yêu cầu ông H, bà T để thanh toán nợ gốc và lãi vay cho Ngân hàng theo cam kết tại hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đến nay ông H, bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ như đã cam kết.
Đối với Hợp đồng tín dụng số 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022 với số tiền vay là 1.3000.000 đồng nhưng ông H bà T đã trả được 72.200.000 đồng, số tiền còn lại là 1.227.800.000 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn đồng). Ngân hàng TMCP P đã giải ngân toàn bộ cho ông H, bà T. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại điều 466 Bộ Luật dân sự 2015, về phía ông H xin Ngân hàng cho ông H, bà T thời gian trả nợ là 03 tháng, nhưng trong quá trình vụ án tòa án đã tống đạt các biên bản hòa giải để cho ông H, bà T lên tòa hỏa giải trình bày ý kiến với Ngân hàng về thời hạn thanh toán, nhưng ông H, bà T không lên Tòa và không có thiện chí hòa giải từ bỏ quyền của mình. Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP K buộc ông H, bà T trả tiền gốc số tiền 1.227.800.000 đồng là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
Về lãi suất: Xét thấy, do ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, buộc ông H, bà T phải trả lãi và gốc theo hợp đồng tín dụng, về phía ông H, bà T xin thời hạn 03 tháng để trả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng thế nhưng ông H, bà T không lên Tòa, không có thiện chí hợp tác nên phía Ngân hàng không thể xem xét về thời gian trả gốc và lãi cho ông H, bà T. Xét về lãi do ông H, bà T vi phạm hợp đồng, nên Ngân Hàng yêu cầu ông H, bà T phải thanh toán các khoản lãi theo hợp đồng tín dụng.
Về lãi suất trong hạn đối với khoản vay 1.227.800.000 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn đồng) tính theo từng kỳ của hợp đồng kể từ ngày 01/02/2024 đến ngày 27/6/2025.(bảng tính lãi kèm theo). Lãi trong hạn là 249.895.414 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm mười bốn đồng), lãi quá hạn là 3.353.818 đồng (Ba triệu, ba trăm năm mươi ba ngàn, tám trăm mười tám đồng), lãi chậm trả là 58.507.618 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm lẽ bảy ngàn, sáu trăm mười tám đồng).
Tổng số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn lãi chậm trả mà ông H, bà T phải trả là 311.756.850đồng (Ba trăm mươi một triệu, bảy trăm năm mươi sáu ngàn, tám trăm năm mươi đồng). Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông H, bà T phải trả là phù hợp với quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7,8,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên HĐXX chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông H, bà T phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng tổng số tiền là 1.539.556.849 đồng (Một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, năm trăm năm mươi sáu ngàn, tám trăm bốn mươi chính đồng). Trong đó tiền gốc là 1.227.800.000 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi bảy triệu, tám trăm ngàn đồng), lãi trong hạn là 249.895.414 đồng (Hai trăm bốn mươi chín triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm mười bốn đồng), lãi quá hạn là 3.353.818 đồng (Ba triệu, ba trăm năm mươi ba ngàn, tám trăm mười tám đồng), lãi chậm trả là 58.507.618 đồng (Năm mươi tám triệu, năm trăm lẽ bảy ngàn, sáu trăm mười tám đồng).
Đồng thời ông H, bà T phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K với ông H, bà T trên số nợ gốc còn lại, tính từ ngày 29/6/2025 cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc.
[2.3]. Về hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hội đồng xét xử xét thấy:
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của ông H, bà T giữa Ngân hàng TMCP K với ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T có thỏa thuận ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022, tài sản thế chấp là thửa đất số 99, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2084,1m2. Tọa lạc tại ấp F, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BK 240408, số vào sổ CH 005518, Sở tài nguyên và môi trường cấp cho ông Nguyễn Văn H1 vào ngày 16/5/2022 để thu hồi nợ. Nếu tài sản bảo đảm khi phát mãi không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thì ông H1, bà T và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C, vào ngày 31/5/2022. Như vậy, xét về hình thức, nội dung và thẩm quyền ký kết của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã được thực hiện đúng theo quy định pháp luật nên cần buộc các bên có nghĩa vụ thi hành. Về phía bị đơn ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T, từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ để bị đơn khônglàm việc và không có ý kiến về tài sản thế chấp, bị đơn vắng mặt không có lý do, từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình nên không có cơ sở để xem xét.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 25.062.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T phải chịu án phí theo mức án phí có giá ngạch tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn là 1.539.556.349 đồng với án phí là 58.186.696đồng (Năm mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu ngàn. Sáu trăm chín mươi sáu đồng).
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng), do Ngân hàng TMCP K đã tạm ứng số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)nên buộc ông H, bà T phải trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 303, 317, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Nghị định số: 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ;
- - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất;
- - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K
- Buộc ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K, tổng số tiền là 1.539.556.849 đồng (đồng). Trong đó tiền gốc là 1.227.800.000 đồng, lãi trong hạn là 249.895.414 đồng, lãi quá hạn là 3.353.818 đồng, lãi chậm trả là 58.507.618 đồng. Theo hợp đồng tín dụng số 0212/22/HĐTD/0100-5057, ngày 31/5/2022.
- Ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng TMCP K,theo mức lãi thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số Thế H và bà Lê Thị T, giữa Ngân hàng với ông H, bà T trên số nợ gốc còn lại tính từ ngày 29/6/2025 cho đến khi ông H, bà T thanh toán đầy đủ tiền nợ gốc.
- Trường hợp ông H, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình thì Ngân hàng TMCP K có quyền tự mình hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp là thửa đất số thửa đất số 99, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2084,1m². Tọa lạc tại ấp F, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước. đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: BK 240408, số vào sổ CH 005518, Sở tài nguyên và môi trường cấp cho ông Nguyễn Văn H1 vào ngày 16/5/2022.
- Đối với tài sản thế chấp phát mại không đủ để thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K, thì ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T còn phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền 1.539.556.849đồng, với án phí là 58.186.696đồng (Năm mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu ngàn. Sáu trăm chín mươi sáu đồng).
Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí là 25.062.00 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0004492, ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T phải chịu 2.500.000. Ông Nguyễn Thế H và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã nộp cho Tòa án vào ngày 18/12/2024.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Hồ Thị Xuân Thiều - Lương Thị Thu An | Lê Văn Ngọc |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bình Phước;
- - VKSND thị xã Chơn Thành;
- - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ | |
Lê Văn Ngọc |
Bản án số 49/2025/DS-ST ngày 28/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 49/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
