|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/DS-ST
Ngày 20-6-2025
V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh
2. Ông Nguyễn Xuân Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 32/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp kiện đòi tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-DS ngày 13/5/2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Lâm Văn C, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà E, phố V, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là ông Lâm Văn C trình bày:
Thời điểm năm 2013, ông không có mối quan hệ gì với bà Đ, nhưng ông có nghe mọi người nói là bà Đ có quen biết nhiều lãnh đại của các Ban, ngành trong phạm vi tỉnh Bắc Giang nên có thể xin việc được cho nhiều người. Thời điểm đó con gái ông là Lâm Văn H đã học xong trường Cao đẳng sư phạm nên ông có nguyện vọng muốn xin cho cháu H làm giáo viên.
Ông đã đến nhà bà Đ để đặt vấn nhờ bà Đ xin việc cho con trai ông. Bà Đ đã đồng ý xin việc cho con ông và nói với ông là tổng tiền xin việc là 130.000.000 đồng, bà Đ yêu cầu ông phải đưa trước 70.000.000 đồng và đến khi nào xin được việc sẽ đưa nốt số tiền 60.000.000 đồng.
Ông đồng ý với yêu cầu của bà Đ, ông đã đưa tiền mặt cho bà Đ là số tiền 70.000.000 đồng, đưa tại nhà bà Đ. Sau khoảng 6 tháng bà Đ yêu cầu ông đưa nốt số tiền còn lại, ông đưa cho bà Đ 2 lần tiền nữa, một lần là 40.000.000 đồng và một lần là 20.000.000 đồng.
Tổng cộng ông đưa cho bà Đ là 130.000.000 đồng, ông đưa tiền mặt, đưa tại nhà bà Đ. Tất cả những lần đưa tiền cho bà Đ thì ông có viết giấy biên nhận nhưng do thời gian đã lâu ông không còn lưu giữ được. Khi ông đưa số tiền 130.000.000 đồng là đưa cho một mình bà Đ, ông không gặp chồng bà Đ bao giờ và ông cũng không quen biết gì chồng bà Đ.
Đến năm 2017, bà Đ vẫn không xin được việc cho con ông nên ông đã yêu cầu bà Đ trả lại ông số tiền là 130.000.000 đồng. Nhưng bà Đ mới trả được cho ông 5.000.000 đồng và ngày 21/12/2016 (âm lịch) bà Đ viết lại Giấy vay tiền theo thỏa thuận là có vay của ông số tiền 125.000.000 đồng và hẹn ông là đến tháng 5 năm 2017 sẽ trả ông hết toàn bộ số tiền trên, hai bên không thỏa thuận lãi suất.
Tuy nhiên, bà Đ đã không thực hiện đúng cam kết, ông đã đòi rất nhiều lần nhưng bà Đ không trả lại ông số tiền 125.000.000 đồng và chỉ hứa với ông là khi nào có sẽ trả tiền ông.
Ông xác định số tiền 125.000.000 đồng là của một mình ông, không liên quan đến vợ con ông, trước ông có trình bày là yêu cầu bà Đ phải trả cho ông và con gái ông là Lâm Thị H1 số tiền 125.000.000 đồng. Tuy nhiên, nay ông xác định không liên quan đến cháu H1 nên ông đề nghị Tòa án không đưa cháu H1 vào tham gia tố tụng, ông cũng xác định số tiền trên không liên quan đến chồng bà Đ nên ông đề nghị Tòa án không đưa chồng bà Đ vào tham gia tố tụng.
Nay, ông đề nghị Tòa án giải quyết buộc một mình bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho một mình ông số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng và ông tự nguyện không yêu cầu bà Đ phải trả tiền nợ lãi cho ông.
Ngoài ra, ông Lâm Văn C không có yêu cầu nào khác.
- Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Đ và ông Q, nhưng bà Đ và ông Q không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên toà hôm nay, bà Đ và ông Q vắng mặt không có lý do.
- Ngày 21 tháng 4 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Ngọc Q vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 13 tháng 5 năm 2025, người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Nguyễn Đình B đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà Đ phải trả cho ông C số tiền lãi là 50.000.000 đồng.
- Ngày 13 tháng 5 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Ngọc Q vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Ngày 29 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam mở phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
- Tại phiên tòa ngày 20 tháng 6 năm 2025, nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử theo quy định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 280, Điều 332 Bộ luật dân sự; để:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn C, buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho ông Lâm Văn C số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để: Bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau nghe khi ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Ngọc Q có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, ngày 21/12/2016 (âm lịch), ông Lâm Văn C cho bà Nguyễn Thị Đ vay số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng, khi vay có lập biên bản, hai bên có thỏa thuận thời hạn trả và không thỏa thuận lãi suất.
Vì vậy, tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.
[4] Về nội dung:
Ngày 21/12/2016 (âm lịch), ông Lâm Văn C cho bà Nguyễn Thị Đ vay số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng, khi vay có lập biên bản, hai bên có thỏa thuận thời hạn trả là tháng 5/2017 và không thỏa thuận lãi suất. Theo như thỏa thuận thì ông C đã đòi nhiều lần nhưng bà Đ không trả tiền cho ông C.
Nay, ông C đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Đ phải trả cho ông C tổng số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng. Ông C xác định số tiền này là của một mình ông cho một mình bà Đ vay, không liên quan đến chồng bà Đ và vợ ông.
[4.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn C về việc buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho ông C số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng thì thấy:
Ngày 21/12/2016 (âm lịch), ông Lâm Văn C cho bà Nguyễn Thị Đ vay số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng, khi vay có lập biên bản, hai bên có thỏa thuận thời hạn trả là tháng 5/2017 và không thỏa thuận lãi suất. Theo như thỏa thuận thì ông C đã đòi nhiều lần nhưng bà Đ không trả tiền cho ông C.
Tuy nhiên, bà Đ đã không thực hiện đúng cam kết trên. Nay ông C khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Đ phải có nghĩa vụ trả cho ông C tổng số tiền là 125.000.000 đồng.
· Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Đ, nhưng bà Đ không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc.
Từ những nhận định nêu trên, HĐXX có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn C, buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho ông Lâm Văn C tổng số tiền nợ gốc là 125.000.000 đồng.
[4.2] Về lãi suất: Ông Lâm Văn C tự nguyện không yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải trả lãi suất cho ông Lâm Văn C. Ngày 13/5/2025, người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Văn C là ông Nguyễn Đình B có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông C về việc buộc bà Đ phải trả cho ông C số tiền lãi suất là 50.000.000 đồng.
Xét thấy: Việc ông Nguyễn Đình B rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông C về việc buộc bà Đ phải trả cho ông C số tiền lãi suất là 50.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên HĐXX cần chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông C về việc buộc bà Đ phải trả cho ông C số tiền lãi suất là 50.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì thấy: Bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi nên thuộc đối tượng được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 280, Điều 332 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn C đối với bà Nguyễn Thị Đ, buộc bà Nguyễn Thị Đ phải có nghĩa vụ trả cho ông Lâm Văn C tổng số tiền là 125.000.000 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng).
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn C đối với bà Nguyễn Thị Đ về việc buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho ông Lâm Văn C số tiền lãi suất là 50.000.000 đồng.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Đ.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
6. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Ngọc O |
Bản án số 49/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 49/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Lâm Văn C khởi kiện bà Nguyễn Thị Đ
