Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐẤT

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/DS-ST

Ngày 12-6-2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà
Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Đất tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2024/TLST-DS ngày 4 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXX-ST ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Trần Văn H- sinh năm 1976;

    Địa chỉ: B tổ A khu phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

  • * Bị đơn:

    • Ông Trần Văn T - sinh năm 1988; Địa chỉ: B tổ F khu phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

    • Ông Trần Văn T1- sinh năm 1983; Địa chỉ: số I tổ A ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    • Ông Trần Văn H1 - sinh năm: 1967; Địa chỉ: E tổ A khu phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)

    • - UBND xã P

      Trụ sở: QL55 ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Anh T2- Chủ tịch UBND xã P (Có đơn xin vắng mặt).

    • - Bà Đặng Thị P - sinh năm 1984; số 9 tổ A ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 19 tháng 7 năm 2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trân Văn H trình bày:

Ông Trần Văn H tranh chấp với ông Trần Văn T1 và Trần Văn T phần đất có diện tích 69,6m² thuộc thửa số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Theo Mảnh trích đo địa chính số 164446-9 ngày 31/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông Trần Văn H1 (anh ruột ông H) khai phá vào khoảng năm 1985. Sau đó, năm 2016, ông H cho tặng miệng lại cho ông H. Về quá trình sử dụng đất: Sau khi vỡ hoang thì ông H1 có sử dụng trồng hoa màu trên đất; từ khi giao lại cho ông H thì ông H chỉ thỉnh thoảng đi lại để vào thăm mồ mã ông bà, không có trồng trọt cây cối hoặc xây dựng nhà, vật kiến trúc gì trên đất. Hiện trạng phần đất này hiện nay chỉ có một số cây cỏ tự mọc.

Nay, ông H xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình ông, các phần đất giáp ranh ông H đã chuyển nhượng cho những người khác, phần này ông H không kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do để lại làm lối đi chung cho các anh em vào đất bên trong nhưng nay không đồng ý để lại lối đi cho các bị đơn đi qua nữa. Vì vậy, đề nghị Tòa án công nhận cho ông H được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 69,6m² thuộc thửa số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nêu trên.

Tại các bản khai ngày 5/5/2025 và qúa trình tham gia tố tụng, các bị đơn ông Trần Văn T, Trần Văn T1 trình bày:

Ông Trần Văn T và Trần Văn T1 có mối quan hệ là anh em ruột. Cha ông T1 và cha ông H có mối quan hệ là anh em ruột với nhau.

Về nguồn gốc đất và quá trình quản lý, sử dụng đất thửa 2038 tờ bản đồ số 37 xã P mà ông H tranh chấp với các bị đơn là từ trước đến nay không ai quản lý, sử dụng ổn định lâu dài mà chỉ để làm lối đi vào thửa đất 467 nằm bên trong của ông Nguyễn Văn T3 và thăm mồ mã ông bà của hai bên. Qúa trình sử dụng của các bị đơn từ trước đến nay, không ai tranh chấp gì. Ngoài lối đi này thì hiện nay không có lối đi nào khác.

Ngoài ra, do đất này không thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông H nên khi ông H chuyển nhượng đất cho các hộ sát ranh đất tranh chấp, ông H không chuyển nhượng phần đất tranh chấp này, ông H không kê khai đăng ký, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp này.

Nay, các bị đơn không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn vì nguồn gốc đất tranh chấp không phải của ông H, ông H không có quá trình quản lý, sử dụng ổn định lâu dài, không có đăng ký sổ mục kê, sổ địa chính, không đóng thuế cho nhà nước...và phần đất này là lối đi công cộng cho các hộ dân bên trong và bị đơn đi vào đất bên trong của mình từ rất nhiều năm nay, bị đơn không có lối đi nào khác để vào đất bên trong của mình.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H1 trình bày:

Ông Trần Văn H1 vào khoảng năm 1985, ông Trần Văn H1 về vỡ hoang phần đất tranh chấp. Sau khi vỡ hoang thì có trồng 1 số cây ngắn ngày, sau này trồng tràm trên đất. Đến năm 2015 thì ông H1 giao lại cho ông H quản lý, sử dụng. Thời điểm ông H1 khai hoang cho đến khi giao cho ông H thì có kê khai trong sổ của xã, nhưng giấy tờ kê khai hiện nay đã bị thất lạc, không còn nữa và cũng không có chứng cứ gì chứng minh. Phần đất này, ông H chừa lại không đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do chừa lại để làm đường đi.

Phần đất tranh chấp này, ông H1 hiện nay vẫn thỉnh thoảng qua lại để vào phần đất bên trong của mình. Nay, ông H đề nghị Tòa án công nhận cho ông H được quyền quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp nêu trên thì ông H1 đồng ý. Ông H1 không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.

Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị P trình bày:

Bà Đặng Thị P có quan hệ là vợ của ông Trần Văn T1. Phần đất tranh chấp thuộc thửa 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, bà Phước là vợ không rõ lắm về nguồn gốc đất như thế nào. Về quá trình sử dụng đất thì từ khi bà Phước về sinh sống với ông T3 cho đến nay đã đi qua lại trên con đường này. Đây là đất đường đi qua lại cho các nhà, đất bên trong, ngoài lối đi này ra thì không còn lối đi nào khác để vào các thửa đất bên trong.

Qúa trình gia đình bà sử dụng đất tranh chấp từ trước đến nay, không ai tranh chấp gì. Ngoài ra, do đất này không thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông H nên khi ông H chuyển nhượng đất cho các hộ sát ranh đất tranh chấp, ông H không chuyển nhượng phần đất tranh chấp này, ông H không kê khai đăng ký, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp này

Nay, bà Phước không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Trong vụ án này, bà Phước không có yêu cầu độc lập gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã P có ý kiến:

Về nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng đất thì theo các ông Trần Văn T4, Trần Văn P1, Dương Văn T5 cho biết phần đất tranh chấp trước đây là tre rừng, khoảng 1985, ông Trần Văn H1 đến khai phá đất tre thành đường đi. Khi ông H1 giao

lại cho ông H nhưng ông H không canh tác, chừa để làm đường đi vào khu mộ, vào khi đất nhà các bị đơn ông T1, ông T3. Thửa 2038 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân nào. Qua xác minh, nguyên đơn, bị đơn đều không có quá trình canh tác đất, ông H1 có canh tác nhưng không ổn định, liên tục. Đồng thời, năm 2018, ông Trần Văn H đo đạc kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu chỉ kê khai chỉ ranh phần đất kế bên nhưng không kê khai phần đất này. Thửa 467, 399 bị bao bọc bởi các bất động sản liền kề, trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2038 tờ bản đồ số 37 cho cá nhân, tổ chức thì các hộ dân bên trong không có lối đi, ngoài lối đi này vào đất thì các hộ dân bên trong không có lối đi nào khác thuận tiện hơn để vào các thửa 467, 399.

Tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Văn H có sự thay đổi yêu cầu đề nghị Tòa án giao cho ông H được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 69,6m² thuộc thửa số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nêu trên. Lý do, ông H mặc dù không quản lý, sử dụng đất liên tục thường xuyên, phía các bị đơn từ trước đến nay sử dụng bên ông H cũng không có ý kiến gì nhưng ông H có nguồn gốc đất là do ông H1 khai phá cho ông H. Phần đất tranh chấp là tài sản do ông H1 cho tặng riêng ông H và ông H tự sử dụng riêng, không liên quan gì đến tài sản chung của vợ chồng.

  • - Bị đơn ông Trần Văn T, ông Trần Văn T1 trình bày: Giữ nguyên lời trình bày, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có yêu cầu phản tố gì.

  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H1 đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, giữ nguyên lời trình bày và không có yêu cầu độc lập gì. Ông H1 cho biết, khi ông H1 phát tre để trồng hoa màu trên thửa đất này thì cũng không xin phép chính quyền địa phương, từ trước đến nay không kê khai hoặc nộp thuế.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất có quan điểm phát biểu:

    • + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử chấp hành tốt các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã xác định chính xác về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật cần giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng, đảm bảo điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ đúng trình tự và đầy đủ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Toà, Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện từ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 69,6m² đối với Thửa đất số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L sang yêu cầu được quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất trên. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nằm trong phạm vi giải quyết vụ án nên đề nghị chấp nhận.

    • + Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 BLDS, các Điều 100, 101 Luật đất đai 2013 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc giao cho ông H được

quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất 69,6m² thuộc thửa số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu- theo sơ đồ vị trí thuộc mảnh 164446-9 ngày 31/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Trần Văn H khởi kiện để yêu cầu công nhận cho ông H được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 69,6m² thuộc thửa số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P nên xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

  • [1.2] Về thẩm quyền: Do đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  • [1.3] Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm: Ông Võ Anh T2 – đại diện theo pháp luật của UBND xã P và bà Đặng Thị P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự này.

  • [1.4] Về sự thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Tại phiên tòa, ông Trần Văn H thay đổi từ yêu cầu công nhận đất sang đề nghị Hội đồng xét xử giao cho ông H được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 69,6m² thuộc thửa số 2038 tờ bản đồ số 37 xã P. Xét việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn nằm trong phạm vi khởi kiện ban đầu nên chấp nhận.

[2] Về nội dung tranh chấp:

  • [2.1] Xác định về vị trí đất tranh chấp:

    Phần đất các bên đang tranh chấp có diện tích 69,6m² thuộc thửa 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo của mảnh trích đo địa chính số 164446-9 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L lập ngày 31/3/2025.

  • [2.2] Xác định về nguồn gốc và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

    Căn cứ theo Công văn số 83/UBND-ĐC ngày 16/5/2025 của UBND xã P và lời khai thống nhất của các bên đương sự cho thấy: Nguồn gốc thửa đất 2038 tờ bản

đồ số 37 xã P có nguồn gốc ban đầu là tre rừng, sau đó khoảng năm 1985 ông Trần Văn H1 đến khai phá tre, sử dụng một thời gian khoảng 10 năm để trồng tràm, hoa màu ...thì giao lại cho ông H quản lý. Tuy nhiên, từ trước đến nay, không ai đóng thuế, không có kê khai, đăng ký; không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân nào.

  • [2.3] Xét quá trình sử dụng thửa đất:

    Căn cứ theo kết quả cung cấp chứng cứ và lời khai thừa nhận của ông H, ông H1 cho thấy sau khi ông H1 khai phá thửa đất cũng không có việc quản lý, sử dụng đất ổn định và từ khi ông H1 giao lại cho ông H (khoảng năm 2015) thì ông H cũng không quản lý, sử dụng đất thường xuyên (đất bỏ trống, chỉ thỉnh thoảng qua lại làm đường đi vào thăm mồ mã ông bà bên trong). Ngoài ra, phần đất này, các bị đơn và những người liên quan khác cũng thường xuyên sử dụng qua lại làm lối đi vào các thửa đất bên trong của mình, nguyên đơn không có ý kiến ngăn chặn.

    Từ những nhận định ở trên cho thấy, ông H có nguồn gốc nhận đất ban đầu do ông H1 khai hoang nhưng không có tài liệu chứng minh thời điểm bắt đầu sử dụng đất, không có đóng thuế, không có kê khai, đăng ký; không có giấy tờ về quyền sử dụng đất đồng thời UBND xã P và chính ông H, ông H1 cũng thừa nhận không có quá trình quản lý, sử dụng ổn định, liên tục. Việc khai phá đất không phải là căn cứ pháp lý độc lập để xác lập quyền sử dụng đất nếu nguyên đơn không có quá trình quản lý, sử dụng đất thực tế và không kê khai đăng ký theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 100, 101 Luật đất đai 2013 thì ông H chưa đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay, đất xảy ra tranh chấp thì không có căn cứ để công nhận và giao cho ông H được quản lý, sử dụng đối với phần đất tranh chấp nêu trên.

  • [3] Về chi phí đo đạc, thẩm định: Tổng chi phí đo đạc, thẩm định nguyên đơn đã tạm ứng là 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Do toàn bộ yêu cầu nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ.

  • [4] Về án phí: Căn cứ theo Khoản 1 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội: Ông H phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

  • [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 100, 101 Luật đất đai 2013;

Căn cứ Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CPhướng dẫn thi hành Luật đất đai;

Căn cứ khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường V.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 69,6m² thuộc thửa 2038 tờ bản đồ số 37 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo của mảnh trích đo địa chính số 164446-9 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L lập ngày 31/3/2025 (Đính kèm bản án)
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn H phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, thẩm định, định giá đất tranh chấp là 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng) và đã nộp xong;
  3. Về án phí: Ông Trần Văn H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch nhưng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002993 ngày 31/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ (nay là huyện L). Ông H đã nộp đủ tiền án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/6/2025), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ theo quy định.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Long Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 49/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger