Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/DS-ST

Ngày: 12 - 02 - 2025

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Bà Lê Thị Hồng Hà
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Thanh Hiện
Ông Nguyễn Trường Hận

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 601/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 577/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hứa Nhật L, sinh năm 1978; Cư trú: Khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1971; Cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Trần Ly P, sinh năm 1982 (Vắng mặt);

Bà Nguyễn Mỹ H1, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại các đơn khởi kiện đề ngày 21/5/2024 và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Ngọc H trình bày:

Bà Hứa Nhật L làm chủ hụi, có mở nhiều dây hụi, vợ chồng ông Nguyễn Trần Ly P và bà Nguyễn Mỹ H1 có tham gia các dây hụi cụ thể như sau:

- Dây hụi mở ngày 12/01/2022 âm lịch, loại hụi 30.000.000 đồng, tổng số 33 phần, mỗi tháng khui hụi hai lần.

Vợ chồng ông P tham gia 01 phần; ngày 12/3/2022 âm lịch vợ chồng ông P hốt hụi lần thứ nhất được số tiền 699.000.000 đồng và ngày 12/5/2022 âm lịch vợ chồng P hốt hụi lần thứ hai được số tiền 699.600.000 đồng (Bà L đã chuyển khoản tiền cho vợ chồng ông P và đã cung cấp chứng từ giao dịch của ngân hàng kèm theo). Sau khi hốt hụi, vợ chồng ông P đóng hụi chết đến hết tháng 5 năm 2023 âm lịch thì không tiếp tục đóng hụi chết cho bà L.

Dây hụi bị ngừng hoạt động vào tháng 4 năm 2024 âm lịch. Vợ chồng ông P còn nợ bà L 11 kỳ hụi chết (Từ tháng 6 năm 2023 âm lịch đến tháng 4 năm 2024 âm lịch) bằng số tiền 660.000.000 đồng (30.000.000 đồng x 11 kỳ x 02 lần khui).

Số tiền hụi chết vợ chồng ông P nợ bà L ở dây hụi này là 660.000.000 đồng.

- Dây hụi mở ngày 09/02/2023 âm lịch, loại hụi 50.000.000 đồng, tổng số 31 phần, mỗi tháng khui hụi một lần.

Vợ chồng ông P tham gia 01 phần; ngày 09/02/2023 âm lịch vợ chồng ông P hốt hụi được số tiền 1.042.500.000 đồng (Bà L đã chuyển khoản cho vợ chồng ông P và đã cung cấp chứng từ giao dịch của ngân hàng kèm theo). Sau khi hốt hụi, vợ chồng ông P đóng hụi chết đến hết tháng 5 năm 2023 âm lịch thì không tiếp tục đóng hụi chết cho bà L.

Dây hụi bị ngừng hoạt động vào tháng 4 năm 2024 âm lịch. Vợ chồng ông P còn nợ bà L 11 kỳ hụi chết (Từ tháng 6 năm 2023 âm lịch đến tháng 4 năm 2024 âm lịch) bằng số tiền 550.000.000 đồng (50.000.000 đồng x 11 kỳ).

Số tiền hụi chết vợ chồng ông P nợ bà L ở dây hụi này là 550.000.000 đồng.

- Dây hụi mở ngày 10/5/2022 âm lịch, loại hụi 20.000.000 đồng, tổng số 34 phần, mỗi tháng khui hụi hai lần.

Vợ chồng ông P tham gia 02 phần; ngày 10/5/2022 âm lịch vợ chồng ông P hốt hụi lần thứ nhất được số tiền 541.200.000 đồng và ngày 10/6/2022 âm lịch vợ chồng P hốt hụi lần thứ hai được số tiền 536.000.000 đồng (Bà L đã chuyển khoản cho vợ chồng ông P và đã cung cấp chứng từ giao dịch của ngân hàng kèm theo). Sau khi hốt hụi, vợ chồng ông P đóng hụi chết đến hết tháng 02 năm 2023 âm lịch thì không tiếp tục đóng hụi chết cho bà L.

Dây hụi đã mãn vào ngày 25/9/2023 âm lịch. Vợ chồng ông P còn nợ bà L 07 kỳ hụi chết (Từ tháng 3 năm 2023 âm lịch đến tháng 9 năm 2023 âm lịch) bằng số tiền 560.000.000 đồng (20.000.000 đồng x 07 kỳ x 02 phần x 02 lần khui).

Số tiền hụi chết vợ chồng ông P nợ bà L ở dây hụi này là 560.000.000 đồng.

- Dây hụi mở ngày 12/01/2023 âm lịch, loại hụi 20.000.000 đồng, tổng số 32 phần, mỗi tháng khui hụi hai lần.

Vợ chồng ông P tham gia 02 phần; ngày 27/01/2023 âm lịch vợ chồng ông P hốt hụi lần thứ nhất được số tiền 494.000.000 đồng và ngày 12/02/2023 âm lịch vợ chồng P hốt hụi lần thứ hai được số tiền 477.900.000 đồng (Bà L đã chuyển khoản cho vợ chồng ông P và đã cung cấp chứng từ giao dịch của ngân hàng kèm theo). Sau khi hốt hụi, vợ chồng ông P đóng hụi chết đến hết tháng 02 năm 2023 âm lịch thì không tiếp tục đóng hụi chết cho bà L.

Dây hụi bị ngừng hoạt động vào tháng 3 năm 2024 âm lịch. Vợ chồng ông P còn nợ bà L 13 kỳ hụi chết (Từ tháng 3 năm 2023 âm lịch đến tháng 3 năm 2024 âm lịch) bằng số tiền 1.040.000.000 đồng (20.000.000 đồng x 13 kỳ x 02 phần x 02 lần khui).

Số tiền hụi chết vợ chồng ông P nợ bà L ở dây hụi này là 1.040.000.000 đồng.

- Như vậy, tổng số tiền hụi chết vợ chồng ông P nợ bà L ở 04 dây hụi nêu trên là 2.810.000.000 đồng, vợ chồng ông P chưa thanh toán khoản tiền nào cho bà L, nay bà L yêu cầu vợ chồng ông P trả số tiền này.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Trần Ly P và bà Nguyễn Mỹ H1: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông P, bà H1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng ông P, bà H1 không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông P, bà H1 đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn ông Nguyễn Trần Ly P, bà Nguyễn Mỹ H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P, bà H1.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hứa Nhật L về việc đòi bị đơn ông Nguyễn Trần Ly P và bà Nguyễn Mỹ H1 trả nợ hụi tổng số tiền 2.810.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị đơn ông P và bà H1 đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L.

Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Do ông P và bà H1 không phản đối những tình tiết, tài liệu, chứng cứ mà bà L đưa ra nên bà L không phải chứng minh. Như vậy, việc ông P và bà H1 đã tham gia các dây hụi do bà L làm chủ; ông P và bà H1 đã hốt toàn bộ các dây hụi tham gia; ông P và bà H1 còn nợ hụi chết bà L tổng số tiền 2.810.000.000 đồng theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn tại phiên toà là thực tế có xảy ra. Do ông P và bà H1 chưa thanh toán số tiền này cho bà L nên cần buộc ông P và bà H1 thanh toán cho bà L là phù hợp.

[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật. Theo đó, ông P và bà H1 phải chịu án phí số tiền 88.200.000 đồng. Bà L không phải chịu án phí, đã dự nộp, được nhận lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hứa Nhật L.

Buộc ông Nguyễn Trần Ly P và bà Nguyễn Mỹ H1 trả cho bà Hứa Nhật L số tiền 2.810.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm mười triệu đồng).

2. Về án phí:

- Ông Nguyễn Trần Ly P và bà Nguyễn Mỹ H1 phải chịu án phí số tiền 88.200.000 đồng (T mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng), chưa nộp.

- Bà Hứa Nhật L không phải chịu án phí. Cùng ngày 25/6/2024, bà L đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 22.650.000 đồng (Hai mươi hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005206 và 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0005205 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được nhận lại.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Hứa Nhật L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Nguyễn Trần Ly P và bà Nguyễn Mỹ H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND huyện Trần Văn Thời;

- Đương sự;

- Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Lê Thị Hồng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 49/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà L yêu cầu bà H trả nợ hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger