trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 49/2025/DS-ST

Ngày: 04 - 6 - 2025

V/v tranh chấp chia tài sản

chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Phượng.
  2. Ông Huỳnh Phước Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 533/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp về chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Số A, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Triệu Trọng Đ, sinh năm: 1989. Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường L, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/5/2025).

- Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Số A, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng H1, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Số A, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 06/3/2025).

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/8/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của bà Trần Thị H và tại phiên tòa anh Triệu Trọng Đ đai diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày:

Vào năm 1983, bà H có mua của bà Lý Thị B phần diện tích đất khoảng 100m² với giá 2.500.000 đồng để xây nhà cho mẹ bà H là bà Lê Thị H2, em bà H là bà Trần Thị T và các thành viên khác trong gia đình của bà H để sinh sống. Thời điểm mua đất, các bên không làm giấy mua bán và bà B cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 03/3/2000, phần diện tích đất trên được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ là cụ Lê Thị H2, diện tích 88m² đất thổ, thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ số 1, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 06/8/2015, cụ H2 chết không để lại di chúc. Sau khi cụ H2 chết, ba người con của cụ H2 gồm bà Trần Thị H, bà Trần Thị X và bà Trần Thị T đã thực hiện thoả thuận phân chia di sản thừa kế của cụ H2 tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời thống nhất giao diện tích đất này cho bà H và bà T được thừa kế, sử dụng và đứng tên quyền sử dụng đất. Đến ngày 22/01/2018, bà T và bà H đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 606043, số vào sổ cấp GCN: CS08987 đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12, có diện tích là 110,8m², trong đó có 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho bà Trần Thị T cùng sử dụng chung với bà Trần Thị H và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 606044, số vào sổ cấp GCN: CS08987 đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12 có diện tích là 110,8m², trong đó có 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho bà Trần Thị H cùng sử dụng chung với bà Trần Thị T. Đến tháng 06/2020al, bà Trần Thị H đã bỏ tiền riêng của bà H ra để cất nhà trên toàn bộ diện tích đất để làm nơi thờ cúng ông bà và cha mẹ và để chị em cùng ở chung. Số tiền cất nhà khoảng 865.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, bà H và bà T thường phát sinh mâu thuẫn và không thể tự giải quyết được dù đã được địa phương hoà giải nhiều lần nhưng không thành.

Do đó, nay bà Trần Thị H yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp giải quyết chia đôi toàn bộ phần diện tích đất thuộc thửa số 208, tờ bản đồ số 12, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 22/01/2018 cho bà Trần Thị H và Trần Thị T mỗi người một nữa. Do diện tích đất tranh chấp hiện nay bà H đang cất một căn nhà cấp 4 ở trên toàn bộ thửa đất nên bà H yêu cầu được nhận toàn bộ diện tích đất và đồng ý trả giá trị đất cho bà T. Tuy nhiên, diện tích đất hiện nay qua đo đạc thực tế chỉ còn lại là 85,6m², còn lại là đất thuộc đường hẽm và đất không được cấp cho thửa 208 nhưng bà H vẫn đồng ý tính giá trị đất theo diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tính giá trị đất để trả cho bà T. Cụ thể, diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm. Về giá trị tài sản tranh chấp thì bà H thống nhất giá theo giá mà Hội đồng định giá đã định ngày 06/02/2025 đối với đất ở 4.900.000đ/m² và đất trồng cây lâu năm là 150.000đ/m². Do đó, tổng giá trị đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ là 88m² đất ở x 4.900.000đ/m² = 431.200.000 đồng và 22,8m² đất trồng cây lâu năm x 150.000đ/m² = 3.420.000 đồng, tổng cộng là 434.620.000₫ (Bốn trăm ba mươi bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) chia hai mỗi người một nữa nên bà H đồng ý trả giá trị đất cho bà T là 434.620.000đ/2 = 217.310.000₫ (Hai trăm mười bảy triệu ba trăm mười nghìn đồng). Đồng thời, bà H đồng ý trả cho bà T số tiền mà bà T đã bỏ ra để sửa lại căn nhà khi bị cháy với số tiền 5.800.000 đồng, tổng cộng bà H đồng ý trả cho bà T tổng số tiền là 223.110.000₫ (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm mười nghìn đồng). Bà H yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất tại thửa 208 và căn nhà có trên đất.

Về giá trị tài sản tranh chấp thì bà H thống nhất giá theo giá mà Hội đồng định giá đã định ngày 06/02/2025 đối với đất ở là 4.900.000đ/m² và đất trồng cây lâu năm là 150.000đ/m². Đối với căn nhà có trên đất là do bà H bỏ tiền ra xây dựng, bà H thống nhất giá trị căn nhà còn lại là 859.157.400đ (T1 trăm năm mươi chín triệu một trăm năm mươi bảy nghìn bốn trăm đồng). Việc bà T đưa ra giá đất là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) thì bà H không đồng ý.

- Ý kiến của bị đơn Trần Thị T, do anh Nguyễn Hoàng H1 đại diện trình bày:

Thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp là của mẹ ruột của bà T và bà H (bà ngoại của anh H1) tên Lê Thị H2 đứng tên vào năm 2000. Đến năm 2015, thì cụ H2 chết không để lại di chúc nên vào ngày 11/12/2017, 03 người con của cụ H2 gồm: bà Trần Thị X, bà Trần Thị H và bà Trần Thị T thỏa thuận chia thừa kế phần diện tích đất của cụ H2 cho bà H và bà T được hưởng và cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 22/01/2018, bà T và bà H đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 606043, số vào sổ cấp GCN: CS08987 đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12, có diện tích là 110,8m², trong đó có 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho bà Trần Thị T cùng sử dụng chung với bà Trần Thị H và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 606044, số vào sổ cấp GCN: CS08987 đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12 có diện tích là 110,8m², trong đó có 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho bà Trần Thị H cùng sử dụng chung với bà Trần Thị T. Đến tháng 6/2020al, thì bà Trần Thị H bỏ tiền ra cất căn nhà cấp IV để cho bà T và bà H cùng ở và dùng để làm nơi thờ cúng ông bà, cha mẹ. Cất nhà ở được khoảng mấy tháng thì nhà bị cháy do cháu nội của bà H đốt nên bà T đã bỏ ra số tiền 5.800.000 đồng để sửa lại căn nhà.

Tuy nhiên, diện tích đất hiện nay qua đo đạc thực tế chỉ còn lại là 85,6m², còn lại là đất thuộc đường hẽm và đất không được cấp cho thửa 208 nên thì phía bà T cũng thống nhất diện tích đất thực tế còn lại của thửa 208 đang tranh chấp là 85,6m² mục đích sử dụng là đất ở.

Nay phía bà H yêu cầu chia tài sản chung là diện tích này ra làm hai phần mỗi người một phần bằng nhau thì phía bà T đồng ý. Do diện tích đất này chia theo hiện vật cho mỗi người thì không thể sử dụng được nên thống nhất một người sẽ được chia là hiện vật, người còn lại sẽ được chia giá trị. Ai nhận hiện vật thì trả giá trị cho người kia. Diện tích đất tại thửa đất tranh chấp anh H1 tự đưa ra giá trị đất là 01 (một) tỷ đồng, mỗi người sẽ được chia là 500.000.000₫ (Năm trăm triệu đồng). Như vậy, do căn nhà trên đất là của bà H cất là của bà H nên phía bà T ưu tiên cho bà H được chia hiện vật là đất nên yêu cầu bà H phải trả giá trị đất cho bà T số tiền là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) để được sử dụng toàn bộ diện tích đất tại thửa 208 nêu trên và tài sản có trên đất và bà T sẽ dọn toàn bộ đồ đạc của bà T có trong nhà để giao nhà và đất cho bà H. Trường hợp, bà H không đồng ý trả cho bà T số tiền là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) thì bà T yêu cầu được lấy hiện vật là đất và đồng ý trả cho bà H số tiền là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Đối với căn nhà có trên đất là do bà H bỏ tiền ra xây dựng, bà T thống nhất giá trị căn nhà còn lại là 859.157.400 đồng thì bà T sẽ đồng ý trả giá trị căn nhà cho bà H để được sở hữu toàn bộ căn nhà. Nhưng phía bà T yêu cầu phải trừ đi số tiền mà bà T đã bỏ ra để sửa chữa căn nhà khi bị cháy là 5.800.000 đồng nên giá trị nhà mà bà T phải trả lại cho bà H là 853.357.400đ. Như vậy, tổng cộng số tiền mà bà T đồng ý trả cho bà H là 1.353.357.400đ (Một tỷ ba trăm năm mươi ba triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).

Về giá đất mà Hội đồng định giá đã định ngày 06/02/2025 đối với đất ở là 4.900.000đ/m² và đất trồng cây lâu năm là 150.000đ/m². Đối với căn nhà có trên đất là do bà H bỏ tiền ra xây dựng, bà T thống nhất giá trị căn nhà con lại là 859.157.400 đồng thì phía bà T không có ý kiến gì. Còn việc anh H1 đưa ra giá trị đất là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) thì do khi bà T và bà H có tranh chấp có ý định bán nhà và đất để chia thì anh H1 có dò hỏi thì được một số người nói cả nhà và đất khoảng là 1.800.000.000đ (Một tỷ tám trăm triệu đồng) thì họ mua được nên anh H1 lấy giá đất là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để làm căn cứ chia tài sản chứ anh H1 không có chứng cứ để chứng minh. Nay anh H1 khẳng định không yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá để định giá lại tài sản và anh H1 cũng không yêu cầu cơ quan, tổ chức nào để định giá tài sản tranh chấp. Trường hợp phía bà H vẫn yêu cầu lấy giá theo giá mà Hội đồng định giá đã định thì phía bà T yêu cầu lấy đất và trả giá trị cho bà H, không đồng ý lấy giá trị đất theo giá mà Hội đồng định giá đã định.

- Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên toà từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng tư cách đương sự và quan hệ tranh chấp. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời thừa nhận của các bên đương sự có căn cứ xác định diện tích đất qua đo đạc thực tế là 85,6m² mục đích sử dụng là đất ở thuộc thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12, đất toạ lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Trần Thị H cùng sử dụng chung với bà Trần Thị T và bà Trần Thị T sử dụng chung với bà Trần Thị H vào ngày 22/01/2018 là thuộc quyền sử dụng chung của bà T và bà H. Nay bà T và bà H yêu cầu chia tài sản chung là phù hợp với quy định tại điều 219 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, hiện nay hai bên đang có tranh chấp về cách chia. Xét thấy, các bên đương sự đều thừa nhận trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng chung của bà H và bà T, thì bà H có cất một căn nhà trên đất và các đương sự thống nhất căn nhà là thuộc sở hữu riêng của H. Do đó, việc chia hiện vật cho bà H, cụ thể là giao toàn bộ diện tích đất cho bà H được quyền sử dụng và bà H phải có nghĩa vụ trả giá trị đất cho bà T là mới phù hợp pháp luật. Về giá trị đất tranh chấp, theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá xác định giá đất tranh chấp đất ở có giá là 4.900.000đ/m², đất trồng cây lâu năm có giá là 150.000đ/m2. Tuy nhiên, phía bà T không đồng ý theo giá mà Hội đồng định giá đã định và tự đưa ra giá toàn bộ diện tích đất trên có giá là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) nhưng phía bà T không có chứng cứ để chứng minh và cũng không yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản và cũng không cung cấp được chứng thư thẩm định giá của cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử lấy giá trị tài sản tranh chấp theo Biên bản định giá tài sản ngày 06/02/2025 để làm căn cứ giải quyết vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Toà án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Trần Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung là diện tích đất mà bà H và bà T được cấp quyền sử dụng đất chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất”. Diện tích đất tranh chấp ở tại huyện L. Do đó vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự, có đủ cơ sở xác định phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc do cụ Lê Thị H2 là mẹ ruột của nguyên đơn và bị đơn đứng tên quyền sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 03/3/2000 cho hộ cụ Lê Thị H2. Cụ Lê Thị H2 chết ngày 06/8/2015, không để lại di chúc. Ngày 11/12/2017, các đồng thừa kế là ba người con của cụ H2 gồm Trần Thị H, Trần Thị T và Trần Thị X đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản tại Ủy ban nhân dân xã M, theo đó các bên thống nhất giao phần đất nêu trên cho bà Trần Thị H và bà Trần Thị T được thừa kế, sử dụng và đứng tên quyền sử dụng đất. Trên cơ sở văn bản thỏa thuận phân chia di sản, ngày 22/01/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà H và bà T đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12, diện tích 110,8m² (gồm 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Theo đó, bà H và bà T là đồng sử dụng chung thửa đất nêu trên, thể hiện qua việc mỗi người đều được cấp giấy chứng nhận mang tên riêng, cùng sử dụng chung với người còn lại.

Hiện nay, theo kết quả đo đạc thực tế được các đương sự thống nhất, diện tích đất chỉ còn lại 85,6m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn. Như vậy, phần diện tích đất thực tế 85,6m² là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp và sở hữu chung của bà Trần Thị H và bà Trần Thị T, được hình thành từ di sản của cụ Lê Thị H2 để lại, đã được các đồng thừa kế thỏa thuận phân chia hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế và đất đai. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp có diện tích thực tế 85,6m² là quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung hợp pháp của bà Trần Thị H và bà Trần Thị T.

[2.2] Xét về hiện trạng sử dụng thửa đất: Theo kết quả đo đạc thực tế được các đương sự thống nhất, hiện tại phần đất tranh chấp chỉ còn lại 85,6m², mục đích sử dụng là đất ở. Diện tích thực tế này nhỏ hơn diện tích ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà Trần Thị H và bà Trần Thị T (110,8m², gồm 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm). Nguyên nhân chênh lệch diện tích giữa thực tế và giấy chứng nhận được các đương sự thừa nhận là do một phần đất đã lấn vào đường hẻm công cộng do Nhà nước quản lý, và một phần còn lại không thuộc ranh giới thửa 208 theo bản đồ địa chính hiện hành. Như vậy, diện tích được sử dụng hợp pháp theo thực tế chỉ còn lại 85,6m². Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bên đương sự đều thống nhất việc chia giá trị quyền sử dụng đất theo diện tích ghi trong giấy chứng nhận là 110,8m² (gồm 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm), không yêu cầu điều chỉnh diện tích theo thực tế. Về tài sản gắn liền với đất, hiện nay trên phần đất đang tranh chấp có căn nhà cấp IV do bà Trần Thị H xây dựng vào năm 2020, bằng tiền của riêng bà H. Theo kết luận định giá, giá trị còn lại của căn nhà là 859.157.400 đồng. Bị đơn không tranh chấp về quyền sở hữu căn nhà này của bà H. Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Việc các đương sự thống nhất chia quyền sử dụng đất theo diện tích ghi nhận trong Giấy chứng nhận là phù hợp, không vi phạm pháp luật, nên cần được chấp nhận. Nhà ở trên đất là tài sản hợp pháp do bà H đầu tư xây dựng, không phải là tài sản chung và các đương sự không có tranh chấp, nên không đặt ra vấn đề chia tài sản này. Do đó, có đủ cơ sở để xác định hiện trạng sử dụng đất là phù hợp với thực tế, các bên đã có sự thống nhất về nguyên tắc chia giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà ở) thuộc sở hữu riêng của bà Trần Thị H.

[2.3] Về phương án chia tài sản: Xét yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa 208, tờ bản đồ số 12, diện tích ghi trong Giấy chứng nhận là 110,8m² (gồm 88m² đất ở và 22,8m² đất trồng cây lâu năm), các bên đương sự đều thừa nhận đây là tài sản chung do thừa kế từ mẹ là cụ Lê Thị H2 để lại và thống nhất chia đôi mỗi người được hưởng ½ giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do hiện trạng thực tế phần đất trên đang được sử dụng chung, diện tích nhỏ, không đảm bảo điều kiện sử dụng và quy hoạch để tách thửa chia đôi nên không thể chia bằng hiện vật được. Các đương sự cũng thừa nhận thực tế này và thống nhất phương án chia theo hướng một bên được nhận hiện vật là đất, bên còn lại nhận giá trị tương ứng với phần quyền sở hữu.

Phía bà Trần Thị H đề nghị được nhận toàn bộ diện tích đất, với lý do trên đất có căn nhà do bà tự bỏ tiền ra xây dựng. Bà H đồng ý thanh toán lại cho bà Trần Thị Thu ½ giá trị tài sản chung là quyền sử dụng đất, theo giá trị mà Hội đồng định giá đã xác định. Đồng thời bà H đồng ý thanh toán thêm 5.800.000 đồng là chi phí sửa chữa nhà mà bà T đã bỏ ra khi căn nhà bị cháy.

Phía bà Trần Thị T (do anh Nguyễn Hoàng H1 đại diện) đồng ý để bà H được nhận hiện vật là quyền sử dụng đất và bà H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà T số tiền là 500.000.000 đồng, tương ứng với phần quyền sử dụng đất mà bà T được hưởng. Trường hợp bà H không đồng ý mức thanh toán này thì phía bà T yêu cầu được nhận đất và sẽ thanh toán lại toàn bộ giá trị đất cho bà H là 500.000.000 đồng, đồng thời thanh toán cả giá trị nhà là 859.157.400 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Các bên đều thừa nhận căn nhà gắn liền trên đất là tài sản riêng của bà H, do bà H xây dựng bằng tiền cá nhân và không có tranh chấp về quyền sở hữu nhà. Bà H không đồng ý nhận giá trị đất và giá trị căn nhà như phương án án anh H1 đưa ra. Việc để bà H được tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất đang tranh chấp là phù hợp với thực tế sử dụng. Như vậy, phương án bà H nhận đất và có nghĩa vụ thanh toán lại phần giá trị tương ứng với phần quyền sử dụng đất của bà T được chia là hợp lý hơn. Do đó, cần chia tài sản theo hướng, giao toàn bộ diện tích đất cho bà Trần Thị H tiếp tục quản lý, sử dụng; bà H có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Thị Thu ½ giá trị quyền sử dụng đất là phù hợp nhất.

[2.4] Về giá trị tài sản: Xét về giá trị tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất tại thửa số 208, tờ bản đồ số 12, theo biên bản định giá tài sản ngày 06/02/2025 do Hội đồng định giá đã định thì: Giá đất ở được xác định là 4.900.000 đồng/m², Giá đất trồng cây lâu năm là 150.000 đồng/m². Tổng diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 110,8m², trong đó: 88m² đất ở × 4.900.000 đồng/m² = 431.200.000 đồng và 22,8m² đất trồng cây lâu năm × 150.000 đồng/m² = 3.420.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất là 434.620.000 đồng.

Phía bà Trần Thị T không đồng ý với mức giá do Hội đồng định giá đã đưa ra, cho rằng giá trị thực tế của phần đất là 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, phía bà T không cung cấp được chứng cứ hợp pháp để chứng minh cho giá trị này, như văn bản định giá từ tổ chức có chức năng thẩm định giá hoặc đề nghị Tòa án thành lập Hội đồng định giá lại. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xác định không có cơ sở để chấp nhận giá do bà T đưa ra, mà cần lấy giá trị tài sản được Hội đồng định giá xác định làm căn cứ giải quyết vụ án.

Do các bên đều thống nhất mỗi người được hưởng ½ giá trị quyền sử dụng đất, nên phần giá trị bà Trần Thị H phải thanh toán cho bà Trần Thị T là: 434.620.000 đồng / 2 = 217.310.000 đồng. Ngoài ra, bà H còn tự nguyện đồng ý thanh toán thêm 5.800.000 đồng cho bà T là chi phí bà T đã bỏ ra để sửa chữa nhà khi bị cháy. Việc tự nguyện của bà H là phù hợp, không trái quy định pháp luật, nên cần được chấp nhận. Từ đó, tổng số tiền bà H phải thanh toán cho bà T là: 217.310.000 đồng (giá trị đất) + 5.800.000 đồng (tiền sửa chữa nhà) = 223.110.000₫ (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm mười nghìn đồng)

[2.5] Về căn nhà: Xét về căn nhà xây dựng trên phần đất tranh chấp tại thửa số 208, tờ bản đồ số 12, các bên đương sự gồm bà Trần Thị H và bà Trần Thị T đều thống nhất rằng căn nhà do bà H tự bỏ tiền ra xây dựng vào năm 2020 và đây là tài sản riêng của bà H. Hội đồng định giá cũng xác định giá trị còn lại của căn nhà là 859.157.400 đồng và bà T không có ý kiến gì về tài sản này. Bà Trần Thị T không có quyền lợi, nghĩa vụ gì đối với căn nhà nên cần buộc bà T có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản cá nhân ra khỏi nhà để giao phần nhà và đất cho bà H tiếp tục quản lý, sử dụng.

Ngoài ra, theo biên bản thẩm định, sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp và lời trình bày của các đương sự thì căn nhà khi xây dựng có một phần chồng lấn lên đất thuộc hẻm công cộng do Nhà nước quản lý và một phần nằm ngoài ranh giới thửa 208. Bà H tự nguyện cam kết nếu sau này Nhà nước có yêu cầu thu hồi hoặc phát sinh tranh chấp, bà H sẽ tự mình giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này và hiện nay cũng chưa phát sinh tranh chấp. Phía bà T cũng thống nhất nếu giao nhà cho bà T thì bà T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần nhà không thuộc thửa đất số 208. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết tạm giao phần nhà xây dựng chồng lấn lên hẻm và ngoài ranh thửa đất số 208 cho bà H tạm quản lý, sử dụng. Trường hợp sau này phát sinh tranh chấp hoặc có yêu cầu thu hồi từ Nhà nước, sẽ giải quyết bằng vụ án khác hoặc theo trình tự, thủ tục hành chính phù hợp.

[2.6] Từ những phân tích và đánh giá toàn diện ở các mục [2.1] đến [2.5], Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Trần Thị H là có căn cứ, đúng pháp luật và bảo đảm quyền lợi các bên, nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà H. Cụ thể: Giao cho bà Trần Thị H được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 85,6m² theo đo đạc thực tế tại thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Bà H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị T tổng cộng số tiền là 223.110.000 đồng, bao gồm: 217.310.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất và 5.800.000 đồng tiền sửa chữa căn nhà.

[3] Về án phí: Xét thấy, đây là vụ án dân sự về chia tài sản chung, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, thì mỗi đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản mà mình được chia. Tuy nhiên, bà H là người cao tuổi (trên 60 tuổi) và có đơn xin miễn án phí, nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà H. Bà Trần Thị T là người được chia giá trị tài sản chung với số tiền là 217.310.000 đồng và không thuộc trường hợp được miễn, giảm nộp án phí. Do đó bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là: 217.310.000 đồng × 5% = 10.865.500 đồng (Mười triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng).

[4] Về chi phí tố tụng: Số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là 3.353.000 đồng, mỗi đương sự phải chịu một nữa. Cụ thể bà H phải chịu số tiền là 1.676.500 đồng và bà T phải chịu 1.676.500 đồng. Do bà H đã nộp tạm ứng trước và đã cho xong nên bà T phải nộp lại để trả cho bà H.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bên có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tình tiết của vụ án và quy định của pháp luật; do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 4, Điều 5, Điều 6, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 104, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 219, Điều 220, Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.
  2. Giao cho bà Trần Thị H được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế là 85,6 m², mục đích sử dụng là đất ở, trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M20, M19, M25, M17, M18 về M1 theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 06/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, thuộc thửa đất số 208, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 22/01/2018 cho bà Trần Thị T và bà Trần Thị H và căn nhà có trên đất.
  3. Buộc bà Trần Thị T phải có nghĩa vụ di dời toàn bộ tài sản của bà T ra khỏi căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 208 nêu trên để giao nhà và đất lại cho bà Trần Thị H.
  4. Tạm giao cho bà Trần Thị H được quản lý, sử dụng, phần căn nhà hiện xây dựng lấn sang đất công (hẻm nhà nước quản lý) và ngoài ranh thửa 208, nếu sau này có tranh chấp hoặc yêu cầu từ cơ quan nhà nước thì giải quyết bằng vụ án khác hoặc thủ tục khác theo quy định pháp luật.
  5. Buộc bà Trần Thị H có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Trần Thị T tổng số tiền 223.110.000 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu một trăm mười nghìn đồng), trong đó: Giá trị 1/2 quyền sử dụng đất là: 217.310.000 đồng. Chi phí sửa chữa căn nhà là: 5.800.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

(Kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/11/2024 của Tòa án và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 24/SÐ.ÐÐ/VP.ĐKĐĐ ngày 06/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Về án phí:

    Bà Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.865.500đ (Mười triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng).

    Bà Trần Thị H không phải chịu án phí, do là người cao tuổi.

  2. Về chi phí tố tụng:

    Bà Trần Thị H phải nộp số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là 1.676.500đ (Một triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Số tiền này bà H đã nộp và chi xong.

    Bà Trần Thị T phải nộp số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là 1.676.500đ (Một triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm đồng) để trả lại cho bà Trần Thị H.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND H.Lấp Vò;
  • - Chi cục THADS H.Lấp Vò;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP- Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Văn Nội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp chia tài sản chung

  • Số bản án: 49/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger