Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/DS-ST

Ngày: 03 – 6 – 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Liêm

Bà Nguyễn Thị Đẹp

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 326/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024; Thụ lý yêu cầu độc lập số 326A/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp mua bán nợ, hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần M2

    Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, Số B phố T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện pháp luật: Ông Hoàng Anh T - Tổng Giám đốc

    Người đại diện ủy quyền lại: Ông Vương Lê Vĩnh N - Trưởng bộ phận xử lý nợ; Ông Huỳnh Minh Đ – Chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2024).

    Địa chỉ liên hệ: Tầng A, số E - 54, T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

  2. Bị đơn:
    1. Anh Bùi Hữu N1, sinh năm 1983
    2. Địa chỉ: Số 47, Rạch Chùa, khóm Tân Bình, phường An Hòa, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

    3. Chị Đỗ Thị Cẩm X, sinh năm 1988
    4. Địa chỉ: Số A, tổ I, ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngân hàng TMCP V1.
    2. Trụ sở chính: Số H, L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

      Người đại diện ủy quyền lại: Ông Vương Lê Vĩnh N - Trưởng bộ phận xử lý nợ; Ông Đặng Minh T1 – Chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2024).

    3. Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1954
    4. Anh Bùi Ngọc M, sinh năm 1975
    5. Anh Bùi Hữu V, sinh năm 1977
    6. Anh Bùi Hữu T3, sinh năm 1979
    7. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1978
    8. Chị Bùi Thị Huỳnh N2, sinh năm 2001
    9. Anh Bùi Tấn T5, sinh năm 2002
    10. Cùng địa chỉ: Số D, Rạch C, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

    11. Bà Bùi Thị N3, sinh năm 1958
    12. Chị Lê Thị Yến H, sinh năm 1992
    13. Anh Dương Minh T6, sinh năm 1985.
    14. Cùng địa chỉ: Số D, Rạch C, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp

Tại phiên tòa có mặt anh Đ (đại diện Công ty M2), anh N1; Vắng mặt chị X, đại diện ủy quyền của Ngân hàng TMCP V1, ông T6, anh T3, anh M, anh V, chị T4, chị N2, anh T5, bà N3, chị H, anh T6, anh M (có đơn xin vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai nguyên đơn Công ty cổ phần M2 (viết tắt Công ty M2); Đơn khởi kiện yêu cầu độc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V1 (viết tắt V2) trình bày:

Anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X có ký hợp đồng vay vốn tại V2 theo các hợp đồng tín dụng như sau:

  • Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Khế ước nhận nợ ngày 17/01/2023:
  • Số tiền vay vốn: 780.000.000đồng; Mục đích vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh Gia công sắt thép, lắp ráp nhà tiền chế; Thời hạn vay: 24 tháng (ngày 17/01/2024); Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh N1, chị X có trả lãi số tiền 89.214.324đồng. Đã vi phạm nghĩa vụ từ ngày 17/01/2024 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký. Tạm tính đến ngày 18/9/2024 dư nợ gốc còn lại là 779.999.600đồng, lãi 94.625.705đồng. Tổng cộng: 874.625.305đồng

  • Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023: Hạn mức thẻ: 39.000.000đồng, mục đích vay vốn tiêu dùng, lãi suất trong hạn áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do V2 quy định qua từng thời kỳ, lãi suất quá hạn bằng 150%, mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, anh N1 vi phạm hợp đồng ngày 07/02/2024. Tạm tính đến ngày 18/9/2024 nợ gốc: 38.575.000đồng, nợ lãi 14.081.989đồng. Tổng cộng là 52.656.989đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, anh N1 và chị X có ký Hợp đồng thế chấp số LN2301128149161 ngày 17/01/2023, thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có diện tích 486,1m² thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 32 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 ngày 04/5/2011.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh N1, chị X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, các khoản vay đã chuyển nợ quá hạn và Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất quá hạn từ ngày 17/01/2024

Ngày 29/06/2024, V2 đã bán khoản nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng ký giữa V2 với anh N1, chị X cho Công ty M2 theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2024/VPB-JUPITER cụ thể như sau:

  • Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023.
  • Toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M2 được kế thừa quyền, nghĩa vụ của V2 phát sinh từ các hợp đồng tín dụng, các biện pháp bảo đảm kèm theo tương ứng với khoản nợ đã bán cho Công ty M2.

Tạm tính đến ngày 18/9/2024, anh N1 và chị X còn nợ tổng số tiền là 927.282.294đồng, trong đó vốn gốc là 818.574.600đồng, tiền lãi là 108.707.694đồng. Trên cơ sở hợp đồng mua bán nợ ngày 29/6/2024, thì dư nợ được phân chia cho V2 và Công ty M2 như sau:

  • Nợ V2 (10% theo Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023) là 87.462.531 đồng (gốc là 77.999.960đồng, lãi 9.462.571đồng).
  • Nợ Công ty M2 (90% theo Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023) là 787.162.774đồng (gốc là 701.999.640đồng, lãi 85.163.134đồng).
  • Và toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng số Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023 là 52.656.989đồng (gốc 38.575.000đồng, lãi 14.081.989đồng).

Nay Công ty cổ phần M2; Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu:

  • Anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X trả cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 839.819.763đồng. Trong đó: nợ gốc là 740.574.640đồng, nợ lãi là 99.245.123đồng;
  • Anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 87.462.531đồng, trong đó gốc là 77.999.960đồng, lãi là 9.462.571đồng.
  • Anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 19/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty M2; Ngân hàng TMCP V1 (theo tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa V2 và Công ty M2).
  • Trường hợp anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Công ty cổ phẩn M2 và Ngân hàng TMCP V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 đứng tên ngày 04/5/2011, theo Hợp đồng thế chấp số LN2301128149161 ngày 17/01/2023 (theo tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa V2 và Công ty M2).
  • Sau khi kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm mà không đủ để thanh toán toàn bộ dư nợ thì anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa V2 và Công ty M2) theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong.

Tại các bản tự khai, bản tường trình, biên bản ghi lời khai bị đơn anh Bùi Hữu N1 và chị Đỗ Thị Cẩm X trình bày:

Anh N4 và chị X thừa nhận việc có vay vốn tại V2 theo trình bày của nguyên đơn.

Ngày 29/06/2024, V2 đã bán khoản nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng ký giữa V2 với anh N4, chị X cho Công ty M2 theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2024/VPB-JUPITER cụ thể như sau:

  • V2 đã bán một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023 và toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng số Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023 cho Công ty M2.

Việc V2 bán các khoản nợ của anh N4 cho Công ty M2, có thông báo cho anh N4 biết.

Nay anh N4, chị X đồng ý:

  • Trả cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 839.819.763đồng. Trong đó: nợ gốc là 740.574.640đồng, nợ lãi là 99.245.123đồng;
  • Trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 87.462.531đồng, trong đó gốc là 77.999.960đồng, lãi là 9.462.571đồng.
  • Đồng ý tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 19/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty M2; Ngân hàng TMCP V1 (theo tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa V2 và Công ty M2).
  • Trường hợp anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 đứng tên ngày 04/5/2011, theo Hợp đồng thế chấp số LN2301128149161 ngày 17/01/2023.
  • Sau khi kê biên, phát mãi các tài sản bảo đảm mà không đủ để thanh toán toàn bộ dư nợ thì anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho theo tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa V2 và Công ty M2) theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong.

Quá trình tham gia tố tụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn T2, anh Bùi Hữu T3, anh Bùi Ngọc M, anh Bùi Hữu V, chị Nguyễn Thị T4, chị Bùi Thị Huỳnh N2, anh Bùi Tấn T5, bà Bùi Thị N3, chị Lê Thị Yến H, anh Dương Minh T6 có ý kiến trình bày:

Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 đứng tên ngày 04/5/2011. Hiện được thế chấp cho Ngân hàng TMCP V1 (theo Hợp đồng thế chấp số LN2301128149161 ngày 17/01/2023) để đảm bảo cho khoản vay của anh N1 và chị X.

Trên thửa đất thế chấp hiện có nhà ở của hộ anh N1, hộ bà N3. Trường hợp anh N1, chị X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, thì ông T6, anh T3, anh V, chị T4, chị N2, anh T5, bà N3, chị H, anh T6 tự nguyện đồng ý giao tài sản thế chấp là thửa đất số 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² để Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự kê biên, phát mãi thu hồi nợ.

Ông T6, anh T3, anh M, anh V, chị T4, chị N2, anh T5, bà N3, chị H, anh T6 không có tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất chấp số 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m².

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Ngọc M chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty M2; yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V1, buộc:
    • Anh N4, chị X trả cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 839.819.763đồng. Trong đó: nợ gốc là 740.574.640đồng, nợ lãi là 99.245.123đồng;
    • A, chị X trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 87.462.531đồng, trong đó gốc là 77.999.960đồng, lãi là 9.462.571đồng.
    • A, chị X tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 19/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ.
    • Trường hợp anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 đứng tên ngày 04/5/2011, theo Hợp đồng thế chấp số LN2301128149161 ngày 17/01/2023.
    • Sau khi kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm mà không đủ để thanh toán toàn bộ dư nợ thì anh N1, chị X phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V2 và Công ty M2 theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng. Bị đơn hiện cư trú tại thành phố S. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
    2. Tại phiên toà bị đơn chị Đỗ Thị Cẩm X; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP V1, ông Bùi Văn T2, anh Bùi Hữu T3, anh Bùi Ngọc M, anh Bùi Hữu V, chị Nguyễn Thị T4, chị Bùi Thị Huỳnh N2, anh Bùi Tấn T5, bà Bùi Thị N3, chị Lê Thị Yến H, anh Dương Minh T6 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng các đương sự theo quy định chung.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần M2; Yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V1 về việc yêu cầu:
      • A, chị X trả cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 839.819.763đồng. Trong đó: nợ gốc là 740.574.640đồng, nợ lãi là 99.245.123đồng; Trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 87.462.531đồng, trong đó gốc là 77.999.960đồng, lãi là 9.462.571đồng. Tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 19/9/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.

      Hội đồng xét xử xét thấy:

      Anh N4, chị X có ký Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Khế ước nhận nợ ngày 17/01/2023 vay vốn tại V2 số tiền 780.000.000đồng; thời hạn vay 12 tháng (ngày 17/01/2024); Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

      Ngoài ra, V2 có cấp cho anh N4 thẻ tín dụng hạn mức 39.000.000đ theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023, lãi suất trong hạn áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do V2 quy định qua từng thời kỳ, lãi suất quá hạn bằng 150%, mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

      Hợp đồng tín dụng giữa các bên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự.

      Thực hiện hợp đồng vay anh N4, chị X có trả tiền lãi số tiền 89.214.324đồng. Từ ngày 17/01/2024 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong khế ước nhận nợ. Đối với thẻ tín dụng hạn mức 39.000.000đồng; anh N4 vi phạm nghĩa vụ từ ngày 07/02/2024. Do đó, V2 đã chuyển toàn bộ số tiền vốn mà anh N4, chị X còn nợ sang nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

      Ngày 29/06/2024, V2 đã bán khoản nợ của anh N4, chị X nợ V2 cho Công ty M2 theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2024/VPB-JUPITER gồm: Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng số Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023. 10% (mười phần trăm) còn lại theo Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023 vẫn thuộc sở hữu của V2.

      Xét thấy, việc mua bán nợ giữa V2 và Công ty M2 được thực hiện theo quy định của pháp luật tại Thông tư số 09/2015/TT-NHNN17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N5 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 18/2022/TT-NHNN26/12/2022 của Thống đốc Ngân hàng N5 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015.

      Khi V2 bán khoản nợ của anh N4, chị X cho Công ty M2 có thông báo về việc bán nợ, chuyển giao quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ cho anh N4, chị X biết. Quá trình giải quyết vụ án anh N4, chị X thừa nhận việc vay vốn tại V2 cũng như việc V2 bán khoản nợ trên cho Công ty M2, việc vi phạm nghĩa vụ và số tiền vốn, lãi còn nợ chưa thanh toán.

      Như vậy, căn cứ theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2024/VPB-JUPITER thì Công ty M2 được kế thừa quyền, nghĩa vụ của V2 phát sinh từ các hợp đồng tín dụng nên Công Jupiter có quyền khởi kiện yêu cầu anh N4, chị X trả (90%) khoản nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng ngày 17/01/2023 và toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng thẻ tín dụng ngày 19/01/2023. V2 có quyền khởi kiện yêu cầu anh N4, chị X trả 10% của nợ gốc, nợ lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng ngày 17/01/2023 là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, buộc:

      • A, chị X trả cho Công ty M2 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 839.819.763đồng. Trong đó: nợ gốc 740.574.640đồng, nợ lãi 99.245.123đồng.
      • Anh N4, chị X trả cho V2 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 87.462.531đồng, trong đó gốc 77.999.960đồng, nợ lãi 9.462.571đồng.
      • Anh Ngọc, chị X còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty M2; V2 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023
    2. Về Hợp đồng thế chấp và xử lý tài sản đảm bảo:
    3. Để đảm bảo cho các khoản vay trên anh N4 và chị X có ký Hợp đồng thế chấp thế số LN2301128149161 ngày 17/01/2023, thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có diện tích 486,1m², thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 32 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 ngày 04/5/2011. Tài sản thế chấp trên được đảm bảo cho nghĩa vụ hiện tại và trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả gốc, lãi, các khoản phí, phạt...

      Ngày 29/6/2024, V2 bán khoản nợ của anh N1, chị Xuyên Công ty M2 và tài sản đảm bảo cũng được mua bán theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2024/VPB-JUPITER. Như đã nhận định trên thì Hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng mua bán nợ giữa các bên thực hiện đúng theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án, anh N1 và chị X cũng đồng ý giao tài sản đảm bảo cho V2 và Công ty M2 xử lý theo quy định nếu như không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ.

      Do đó, trong trường hợp anh N1, chị X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Công ty cổ phẩn M2 và Ngân hàng TMCP V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 đứng ngày 04/5/2011, theo Hợp đồng thế chấp thế số LN2301128149161 ngày 17/01/2023 để thu hồi nợ (theo tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa V2 và Công ty M2).

      • Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ phải trả thì anh N1, chị X có nghĩa vụ tiếp ttục thanh toán số tiền còn thiếu cho V2 và Công ty M2 cho đến khi thanh toán xong.
    4. Về phía Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn T2, anh Bùi Hữu T3, anh bùi Hữu M1, anh Bùi Hữu V, chị Nguyễn Thị T4, Bùi Thị Huỳnh N2, Bùi Tấn T5, bà Bùi Thị N3, chị Lê Thị Yến H, anh Dương Minh T6 trong quá trình giải quyết vụ án trình bày có biết việc anh N1 thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa 101 để vay vốn tại V2.
    5. Trường hợp anh N1, chị X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, thì ông T6, anh T3, anh M1, anh V, chị T4, chị N2, anh T5, bà N3, chị H, anh T6 tự nguyện đồng ý giao tài sản thế chấp là thửa đất số 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² để Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1 yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự kê biên, phát mãi thu hồi nợ và không có tranh chấp, yêu cầu gì đối với thửa đất chấp số 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m². Xét thấy sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  3. Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty M2; yêu cầu độc lập của V2 là có căn cứ như đã nhận định trên.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Công ty M2 tự nguyện nộp toàn bộ chi phí xem xét thẩm định là 200.000đồng (đã nộp đủ và chi xong).
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Ngọc, chị X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Công ty M2 và V2 được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luận Dân sự
  • Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
  • Căn cứ Thông tư số 09/2015/TT-NHNN 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N5 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 18/2022/TT-NHNN 26/12/2022 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015.
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của Công ty M2 và yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng TMCP V1.
    • Buộc anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X trả cho Công ty M2 số tiền vốn gốc, lãi tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 839.819.763đồng. Trong đó tiền gốc 740.574.640đồng, tiền lãi 99.245.123đồng.
    • Buộc anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền vốn gốc, lãi tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 87.462.531đồng. Trong đó, tiền gốc 77.999.960đồng, tiền lãi 9.462.571đồng.
    • Anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 19/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số LN2301128149161 ngày 17/01/2023; Hợp đồng thẻ tín dụng số 384-P-5488048 ngày 19/01/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1.
    • Sau khi anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X hoàn tất nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1 có trách nhiệm trả lại toàn bộ bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho anh Bùi Hữu N1.
    • Trường hợp anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩ vụ thì Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa 110, tờ bản đồ 32, diện tích 486,1m² do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Bùi Hữu N1 đứng tên ngày 04/5/2011, theo Hợp đồng thế chấp thế số LN2301128149161 ngày 17/01/2023 để thu hồi nợ tương ứng tỷ lệ nợ được chuyển giao giữa Ngân hàng TMCP V1 và Công ty cổ phần M2.
    • Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ phải trả thì anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho V2 và Công ty M2 cho đến khi thanh toán xong.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Anh Bùi Hữu N1, chị Đỗ Thị Cẩm X phải chịu 39.818.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Hoàn trả cho Công ty cổ phần M2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.870.000đồng theo biên lai số 0007995 ngày 14/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
    • Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.187.000đồng theo biên lai số 0006652 ngày 22/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền 200.000đồng, Công ty cổ phần M2 tự nguyện nộp (đã nộp đủ và chi xong)

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • Đương sự;
  • Tòa án Tỉnh Đồng Tháp;
  • Viện Kiểm sát ND TP. Sa Đéc;
  • Chi cục THA Dân sự TP. Sa Đéc;
  • Lưu VT, HSVA (Thủy).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-ST ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 49/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Jupiter yêu cầu anh Ngọc trả vốn, lãi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger