|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/DS-PT Ngày 30-6-2025 V/v tranh chấp đất đai |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lưu Văn Tỉnh |
| Các Thẩm phán: | Bà Lê Thị Hải Yến |
| Bà Bùi Thị Thu Hằng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2025/TLPT- DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp đất đai.
Do Bản án sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 58/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; cùng nơi cư trú: Khu dân cư L, thôn N, xã N (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; Bà L có mặt, ông V vắng mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn V: Bà Trần Thị T và bà Đoàn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng, có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số C đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số C đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, đồng nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn V - Bà Nguyễn Thị L trình bày:
Gia đình bà có diện tích đất ở từ năm 1986, ngày 05/3/1998 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với diện tích 640m² tại thửa đất số 74, 78 tờ bản đồ số 14 tại thôn N, xã N (N là xã V), huyện V. Gia đình bà và gia đình ông H2 (hộ giáp ranh) có thỏa thuận đổi đất cho nhau: Gia đình ông H2 lấy sang đất phía sau của gia đình bà với kích thước ngang 01m, chiều dài hết đất nhà bà, còn gia đình bà lấy sang đất của ông H2 về phía trước giáp Quốc lộ C với kích thước ngang 01m, chiều dài hết đất nhà ông H2 để gia đình bà làm lối đi. Từ khi đổi đất, gia đình bà sử dụng diện tích đất đổi ổn định khoảng hơn 20 năm thì xảy ra tranh chấp với gia đình ông T1 (ông H2 chuyển nhượng đất cho ông C, ông C chuyển nhượng cho ông T1). Còn phần đất của gia đình bà đã đổi cho ông H2 thì đã được nhập vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông H2 (nay là của ông Nguyễn Xuân T1).
Năm 2018, Nhà nước mở rộng quốc lộ C lấy vào đất của gia đình bà (trong đó có 5,1m² đất ông H2 đổi cho gia đình bà) với số tiền bồi thường là 42.075.000 đồng. Gia đình bà đã nhận đủ tiền bồi thường, không có tranh chấp gì. Phần đất còn lại gia đình bà vẫn sử dụng.
Năm 2019, gia đình bà xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thu hồi. Khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lại ngày 18/3/2020 thì diện tích đất trên giấy chứng nhận là 664m². Trong đó cạnh phía sau giáp mương chỉ còn 20,2m, đã cắt 01m chiều ngang so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1998 sang bìa đỏ của gia đình ông H2. Còn phần đất gia đình ông H2 đổi cho gia đình bà sau thu hồi còn lại là 5,4m² (ngang 01m, dài 5,4m) không được công nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng lại được thể hiện trong sơ đồ vẽ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi là “ngõ”. Hiện gia đình bà vẫn đang quản lý, sử dụng diện tích đất này.
Trước đây, ông H2 chuyển nhượng đất cho ông C, địa chính đo từ cột mốc phía sau giáp mương qua trụ tường bao thẳng ra Quốc lộ C, đo vuông góc sang đất của ông H2 05m là đất của ông C. Nên giáp ranh giữa đất gia đình bà và đất gia đình ông C là đường thẳng từ cột mốc phía sau giáp mương qua trụ tường bao thẳng ra Quốc lộ C.
Sau này, ông C bán đất cho ông T1 cũng là địa chính trước đây đo nhưng đo theo đường từ đất bà M sang 05m là đất của ông T1 đến 01m đất của gia đình bà, do đó giáp ranh giữa đất gia đình bà và gia đình ông T1 không thẳng từ phía sau giáp mương ra phía trước giáp Quốc lộ C.
Năm 2021, xảy ra tranh chấp giữa gia đình bà và gia đình ông T1. Địa chính xuống xác định lại mốc giới theo biên bản lập ngày 10/6/2021. Bên cạnh nhà ông T1 thừa ra khe đất như hiện nay còn phần đất ông H2 đổi cho gia đình bà về phía Quốc lộ C còn lại 0,45m do vậy không đi được. Gia đình bà đã xây tường vít phần đất này vào thì bà H1 vợ ông Đ (là người sống bên cạnh) ra phá, ngăn cản gia đình bà làm.
Năm 2021, khi ông T1 xây lán tôn có lấn sang phần diện tích ông H2 đã đổi cho gia đình bà khoảng 0,4m² (ngang 0,15m x dài 5,4m : 2). Việc làm này của ông T1 làm ảnh hưởng đến quyền lợi và cuộc sống của gia đình bà vì hơn 300m² đất của gia đình bà không có lối vào. Vì vậy, vợ chồng bà khởi kiện, yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn Xuân T1 phải trả lại cho vợ chồng bà diện tích đất lấn chiếm là 0,4 m². Cụ thể: Phía Đông giáp Quốc lộ C (đường 17 A cũ) kích thước 0,15 m; Phía Nam giáp ngõ kích thước 5,4 m; Phía Bắc giáp đất ông T1 kích thước 5,4 m; Phía Tây giáp đất ông V, bà L kích thước 0 m của thửa đất số 78, tờ bản đồ số 14; địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã N (N là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng.
Quá trình tố tụng - Bị đơn là ông Nguyễn Xuân T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1 thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông có thửa đất số 76, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng, giáp ranh liền kề với thửa đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L. Nguồn gốc của thửa đất trên là do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Đỗ Văn C, bà Nguyền Thị M1 ở thôn C, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng vào năm 2019. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông đã được Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 388300 mang tên Nguyễn Xuân T1 và vợ Nguyễn Thị L1. Quá trình sử dụng đất, gia đình ông sử dụng ổn định, năm 2021 vợ chồng ông xây dựng 01 nhà cấp 4 và lán tôn trên phần diện tích đất này. Khi gia đình ông xây dựng gia đình bà L, ông V không có ý kiến gì, không có tranh chấp gì.
Nay, ông V, bà L khởi kiện, vợ chồng ông đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, bà L.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tiến hành xác minh thu thập chứng cứ xác định được:
Tại Công văn số 39/TNMT ngày 06/02/2025 của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện V xác định tại thời điểm thu hồi đất thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp từ cầu N đến cầu N, giữa diện tích đất của ông Nguyễn Văn H2 và ông Nguyên Thành Đ có thể hiện phần diện tích ngõ đi có chiều ngang giáp quốc lộ A (Nay là quốc lộ C) là 1m, tại thời điểm đó hộ ông Nguyễn Văn V đang sử dụng diện tích ngõ đi trên, ông Nguyễn Văn V sử dụng ổn định, không có tranh chấp từ thời điểm đổi đất đến khi thu hồi đất thực hiện Dự án nên Ủy ban nhân dân xã N xác định diện tích đất ngõ đi trên là diện tích đất ở của hộ gia đình ông Nguyễn Văn V do đổi từ đất của hộ ông Nguyễn Văn H2 để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt nguồn gốc đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ Giải phòng mặt bằng đối với hộ ông V là đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất và đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và khoản 1 Điều 13 của Nghị định số: 47/2014/ND-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Theo yêu cầu của nguyên đơn ngày 10/5/2024, Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và thành lập Hội đồng định giá tài sản, kết quả như sau:
- Về giá trị đất: 25.000.000 đồng/m²;
- Tài sản trên đất của gia đình ông T1 gồm lán tôn, kèo sắt có giá trị là 8.177.607 đồng.
Các đương sự không có ý kiến gì về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản.
Tại Bản án sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 174; 175; 176 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 170; 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 2 Luật người cao tuổi;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Xuân T1, bà Nguyễn Thị L1 phải trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L giá trị bằng tiền đối phần đất lấn chiếm có diện tích là 0,255m² thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn N, xã N (N là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng. T2 tiền là 6.375.000 (Sáu triệu ba trăm bảy lăm nghìn) đồng; vợ chồng ông Nguyễn Xuân T1, bà Nguyễn Thị L1 được quyền sử dụng diện tích 0,255m² đất, có tứ cận: Phía Đông giáp Quốc lộ C kích thước 0,10m; phía Nam giáp ngõ kích thước 5,1m; phía Bắc giáp thửa đất số 76 của ông T1 kích thước 5,1m; phía Tây thửa đất 78 kích thước 0m thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn N, xã N (N là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng (Có sơ đồ kèm theo).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án này.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo với nội dung: Kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng buộc ông Nguyễn Văn T3 phải trả lại diện tích 0,255m² đất cho gia đình vợ chồng ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị đơn trả diện tích 0,255m² cho bà bằng đất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn V thống nhất trình bày với quan điểm của bà Nguyễn Thị L, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân s, chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, sửa bản án sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 07/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo theo hướng buộc ông Nguyễn Xuân T1 và bà Nguyễn Thị L1 phải trả diện tích đất lấn chiếm có cạnh hình tam giác có cạnh giáp Quốc lộ C là 0,1m, chiều dài 5,1m cho ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị L. Ông Nguyễn Xuân T1 và bà Nguyễn Thị L1 phải có trách nhiệm tháo dỡ công trình trên đất.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định được quan hệ tranh chấp đất đai. Bị đơn cư trú tại huyện V nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về việc vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, nguyên dơn ông Nguyễn Văn V, bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn V, Nguyễn Xuân T1, bà Nguyễn Thị L1.
- Xét thấy kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
-
Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn T3 phải trả lại diện tích 0,255m² đất cho gia đình vợ chồng ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị L:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về nguồn gốc, quá trình sử dụng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Công văn số 39/TNMT ngày 06/02/2025 của Phòng TNMT huyện Vĩnh Bảo có đủ căn cứ xác định quyền sử dụng của hộ ông V, bà L đối với diện tích ngõ đi đã đổi cho ông H2.
Xét thấy phần diện tích 0,255m² đất các bên tranh chấp là ngõ đi phụ vào diện tích đất của gia đình ông V, bà L. Mặc dù diện tích đất tuy nhỏ, nhưng nằm ở vị trí ngõ dẫn vào diện tích đất 300m² phía trong của gia đình bà L. Mặt khác, qua quá trình xem xét thẩm định tại chỗ, hiện trạng diện tích đất 0,255m² là phần tường bao xây gạch chỉ, tường 10 mái lợp tôn tôn tạm (giá trị khoảng 8 triệu đồng) do gia đình ông T3 xây dựng, không phải công trình, vật kiến trúc kiên cố. Việc buộc trả lại đất phù hợp với hiện trạng thực tế, đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, đồng thời không gây thiệt hại đáng kể cho bị đơn. Phần tài sản trên đất do ông T3 xây dựng lấn sang đất nhà bà L nên ông T3 phải tự tháo dỡ, bà L không có trách nhiệm bồi thường.
- Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, buộc bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 phải tháo dỡ các công trình trên diện tích đất 0,255m² và trả cho nguyên đơn diện tích đất.
- Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Về án phí phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm nên nguyên đơn kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 174; 175; 176 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 170; 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 2 Luật người cao tuổi;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L.
Buộc ông Nguyễn Xuân T1, bà Nguyễn Thị L1 phải trả cho ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L diện tích đất 0,255m² thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn N, xã N (N là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng có tứ cận: Phía Đông giáp Quốc lộ C kích thước 0,10m; phía Nam giáp ngõ kích thước 5,1m; phía Bắc giáp thửa đất số 76 của ông T1 kích thước 5,1m; phía Tây thửa đất 78 kích thước 0m thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 14; địa chỉ: Thôn N, xã N (N là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng (Có sơ đồ kèm theo)
Ông Nguyễn Xuân T1, bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ tháo dỡ các tài sản, công trình trên diện tích đất 0,255m² trả lại cho ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án này.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Xuân T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
-
Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L.
Ông Nguyễn Xuân T1 phải chịu án phí sơ thẩm là 319.000 (Ba trăm mười chín nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp đất đai
- Số bản án: 49/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
