Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/ DS-PT

Ngày: 29 - 5-2025

V/v: “Tranh chấp chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Chu Thái Hà

Các thẩm phán: Bà Mai Thị Minh Hồng

Ông Vũ Hà Nam

- Thư ký phiên toà :Bà Đoàn Thị Kim Phượng – Thư ký TAND tỉnh Nam Định

- Đại diện Viện KSND tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh T - Kiểm sát viên

Ngày tháng năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2024/TLPT- DS ngày 26-11-2024 về việc “Tranh chấp về chia tài sản chung, chia di sản thừa kế” - Do bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024DS-ST ngày 31-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐ-PT ngày 21-4-2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Bị đơn:

  1. Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.
  2. Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm Q, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Ngô Thị T3, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  2. Chị Ngô Thị S, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
  3. Anh Ngô Văn Q, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  4. Anh Ngô Văn D, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  5. Bà Lâm Thị M1, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  6. Chị Ngô Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.
  7. Bà Lã Thị D1, sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
  8. Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T4 - Chủ tịch UBND xã. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Ngô Văn L, sinh năm 1967; địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
  2. Ông Phạm Quốc T5, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1968; địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/11/2023, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị M và tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T6 thống nhất trình bày:

Bà Phạm Thị M và ông Ngô Văn T7 có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định vào khoảng cuối năm 1980 nhưng đến nay đã bị mất giấy chứng nhận kết hôn. Ông T7 chết ngày 25/10/2019, không để lại di chúc. Bố mẹ đẻ ông T7 là cụ H1 và cụ H2 đều chết trước ông T7 nhưng không nhớ các cụ chế năm nào.

Bà M và ông T7 có 03 con chung là chị Ngô Thị C, sinh năm 1982 (đã chết khi mới 01 tháng tuổi), chị Ngô Thị H, sinh năm 1987 và chị Ngô Thị T8, sinh năm 1989 (đã chết khi được 06 tuổi). Trước khi kết hôn với bà M thì ông T7 đã có vợ là bà Hoàng Thị L1 và có 01 con chung là anh Ngô Văn D; bà L1 chết năm 1980. Ngoài ra ông T7 còn có quan hệ tình cảm với bà Lã Thị D1 (ở xã H, huyện H) và có 02 con chung với bà D1 là anh Ngô Văn T1 và chị Ngô Thị T2. Ông T7 có quan hệ tình cảm với bà Lâm Thị M1 (hiện ở tỉnh Yên Bái) và có 01 con chung là chị Ngô Thị S; bà M1 có 02 con riêng là chị Ngô Thị T3 và anh Ngô Văn Q nhưng đã được ông T7 nhận là con nuôi.

Khi ông T7 còn sống, bà M và ông T7 có tài sản chung là Thửa đất số 228, tờ bản đồ số 11, diện tích 512m² (gồm đất ở 312m², đất ao 200m²) tại xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. ( Sau đây gọi tắt là thửa đất số 288). Nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn H3 năm 1992. Đến ngày 09/11/2006 được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 602542 đứng tên bà M và ông T7 (hiện bà M đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 bốn gian của chủ cũ để lại, năm 2019 bà M và ông T7 còn sống đã xây thêm 01 căn nhà mái bằng một tầng ở phía Đông, xây thêm bếp lợp tôn, dại chăn nuôi, nhà vệ sinh, cổng, tường rào xunh quanh thổ và trồng một số cây lâu năm. Từ sau khi ông T7 chết thì bà M quản lý sử dụng nhà đất. Ngoài ra bà M và ông T7 không có tài sản chung nào khác; ông T7 chết không để lại khoản nợ nào.

Nay bà M khởi kiện yêu cầu Toà án chia tài sản chung của vợ chồng và chia di sản thừa kế của ông Ngô Văn T7 theo pháp luật đối với Thửa đất số 228. Bà M yêu cầu được chia đất để sử dụng ở vì bà không có chỗ ở nào khác và hầu hết các con riêng của ông T7 đã đồng ý tặng cho bà phần di sản của họ được hưởng, riêng anh T1 và chị T2 chưa có ý kiến rõ ràng thì bà M đồng ý thanh toán giá trị đất di sản cho anh T1, chị T2 theo quy định pháp luật.

Đối với phần diện tích đất tăng thêm 68m² so với giấy chứng nhận đã cấp do bà M đang sử dụng là đất Mương (đất công) trong đó có một phần căn nhà mái bằng xây dựng năm 2019 trên diện tích đất này thì bà M sẽ chấp hành theo yêu cầu của chính quyền địa phương, nếu phải tháo rỡ nhà để trả lại đất công cộng thì bà M sẽ thực hiện.

Tại bản tự khai ngày 26/3/2024 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn anh Ngô Văn T1 trình bày:

Anh là con đẻ của ông Ngô Văn T7 và bà Lã Thị D1. Anh thống nhất với bà Phạm Thị M về các thành viên trong gia đình ông T7, thời điểm ông T7 chết, ông T7 không để lại di chúc. Anh công nhận thửa đất diện tích 512m² tại xóm I, xã H do bà M đang quản lý là tài sản chung của bà M và ông T7. Trên đất có 01 căn nhà mái ngói cũ và 01 căn nhà mái bằng một tầng xây năm 2019 trước khi ông T7 chết khoảng 02 tháng. Anh không biết ông T7 có tài sản nào khác, không thấy ông T7 để lại khoản nợ nào.

Anh không đồng ý với yêu cầu của bà M đòi chia thừa kế di sản của ông T7 vì anh muốn chờ sau khi sang cát cho ông T7 xong thì mới họp gia đình bàn bạc quyết định. Nếu Tòa án quyết định chia thừa kế di sản của ông T7 thì anh xin nhận để sau này sử dụng sang cát cho ông T7 và sửa sang mồ mả. Đối với diện tích đất bà M đang quản lý nhiều hơn giấy chứng nhận trong đó có phần đất Mương thì anh không có ý kiến gì. Nếu chính quyền xử lý đòi lại đất Mương thì gia đình phải chấp hành.

Tại bản tự khai ngày 09/5/2024, bị đơn chị Ngô Thị T2 trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của bà M, anh T1 về các thành viên trong gia đình ông Ngô Văn T7, thời điểm ông T7 chết, ông T7 không để lại di chúc và nguồn gốc tài sản tranh chấp là tài sản chung của bà M, ông T7. Chị không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà Phạm Thị M mà muốn để phần đất của ông T7 làm nơi thờ cúng chung cho anh em con cháu đi về. Còn nếu phải chia thừa kế thì chị nhận chia để sử dụng hoặc nhận chia bằng tiền.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2024 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị H trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị M về các thành viên trong gia đình ông Ngô Văn T7, thời điểm ông T7 chết, ông T7 không để lại di chúc và nguồn gốc tài sản tranh chấp là tài sản chung của bà M, ông T7. Chị đồng ý với yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị M. Đối với phần di sản của ông T7 mà chị được chia theo pháp luật thì chị tặng cho bà Phạm Thị M được quyền sử dụng toàn bộ, không yêu cầu bà M thanh toán giá trị di sản cho chị. Đối với một phần nhà mái bằng 01 tầng của bố mẹ xây trên đất Mương do khi xây dựng không biết, nay chị nhất trí với ý kiến của bà M sẽ chấp hành theo quyết định xử lý của chính quyền địa phương.

Tại bản tự khai ngày 04/01/2024 và các bản tự khai cùng 14/3/2024; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Ngô Thị S, chị Ngô Thị T3, anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q cùng trình bày: Các anh chị thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị M về các thành viên trong gia đình ông Ngô Văn T7, thời điểm ông T7 chết, ông T7 không để lại di chúc và nguồn gốc tài sản tranh chấp là tài sản chung của bà M, ông T7. Đồng ý tặng cho bà Phạm Thị M toàn bộ kỷ phần thừa kế các anh chị được nhận chia di sản thừa kế của ông Ngô Văn T7.

Tại bản tự khai ngày 14/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị M1 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị M về các thành viên trong gia đình ông Ngô Văn T7, thời điểm ông T7 chết, ông T7 không để lại di chúc và nguồn gốc tài sản tranh chấp là tài sản chung của bà M, ông T7. Bà và ông T7 có ba con là anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3 và chị Ngô Thị S. Bà đồng ý tặng cho bà Phạm Thị M toàn bộ kỷ phần thừa kế của bà được nhận khi chia di sản thừa kế của ông Ngô Văn T7.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lã Thị D1 trình bày: Bà và ông Ngô Văn T7 quen biết nhau từ khi cùng đi bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ. Bà có biết trước đây ông T7 có vợ là bà Hoàng Thị L1. Bà và ông T7 có quan hệ tình cảm và có 02 con chung là anh Ngô Văn T1, chị Ngô Thị T2. Ngoài ra ông T7 chung sống với bà M và có 01 con chung là chị H; ông T7 còn có quan hệ tình cảm với bà M1 và có 01 con chung là chị S; bà M1 có hai con riêng là anh Q và chị T3. Đối với yêu cầu chia thừa kế của bà M thì đề nghị giải quyết theo pháp luật, nếu bà được hưởng thừa kế di sản của ông T7 theo pháp luật thì bà nhận sử dụng.

Tại bản trình bày ý kiến số 200/CV-UBND ngày 11/6/2024, Ủy ban nhân dân xã H có ý kiến trình bày: Thửa đất số 228 đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/11/2006 đứng tên chủ sử dụng là ông Ngô Văn T7, bà Phạm Thị M. Ranh giới thửa đất có phía Bắc giáp đường xóm, phía Đông giáp Mương, phía Tây giáp thửa đất số 229 của hộ ông S1, phía Nam giáp thửa đất số 287 là đất chuyên trồng lúa nước. Ông T7 và bà M xây nhà ở không báo cáo với chính quyền địa phương, đã tự lý xây lấn trên một phần đất Mương là vi phạm quy định pháp luật đất đai, công trình xây dựng trên đất công cộng của hộ gia đình bà M là bất hợp pháp. UBND xã H sẽ xem xét biện pháp xử lý đối với vi phạm của hộ gia đình bà M. Gia đình bà M được tạm thời sử dụng công trình cho đến khi UBND xã có yêu cầu tháo rỡ thì phải thực hiện. Về việc khởi kiện chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị M đối với thửa đất số 228, tờ bản đồ số 11 xã H đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và đúng theo ranh giới hợp pháp của thửa đất.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2024, người làm chứng ông Ngô Văn L trình bày: Ông là em trai ông Ngô Văn T7. Ông thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị M về các thành viên trong gia đình ông Ngô Văn T7, thời điểm ông T7 chết, ông T7 không để lại di chúc và nguồn gốc tài sản tranh chấp là tài sản chung của bà M, ông T7. Ông không biết ông T7 chung sống với 04 bà vợ thì có đăng ký kết hôn với ai hay không, ông chỉ biết sau khi bà Hoàng Thị L1 là vợ cả chết thì ông T7 chung sống với bà Phạm Thị M và có tổ chức lễ cưới tại gia đình, sau này mới biết ông T7 còn có quan hệ tình cảm với bà Lã Thị D1 và bà Lâm Thị M1. Đối với yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của bà Phạm Thị M thì do ông không được mời tham gia họp gia đình lần nào, ông không biết cụ thể nên không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2024, người làm chứng ông Phạm Quốc T5 trình bày: Ông là xóm trưởng xóm I, xã H từ năm 1987 cho đến nay nên có biết bà Hoàng Thị L1, ông Ngô Văn T7 và bà Phạm Thị M. Trước đây ông T7 và bà L1 là vợ chồng và có 01 con chung là anh D. Sau khi bà L1 chết thì ông T7 chung sống với bà M, ông T7 và bà M có tổ chức lễ cưới tại gia đình, có đăng ký kết hôn hay không thì ông không biết. Ông T7 và bà M đã mua nhà đất của ông Phạm Văn H3 tại xóm I, xã H và ở với nhau thường xuyên đến khi ông T7 chết, hai ông bà có 01 con chung là chị Ngô Thị H. Việc ông T7 còn có quan hệ tình cảm với những người phụ nữ khác và có con riêng thì ông mới được biết sau khi ông T7 chết và gia đình bà M cũng công nhận họ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/7/2024, người làm chứng bà Nguyễn Thị D2 trình bày: Gia đình bà là hàng xóm ở liền kề nhà bà Phạm Thị M, ông Ngô Văn T7. Nguồn gốc thửa đất bà M đang ở trước đây là đất của bố mẹ chồng bà chia cho ông Phạm Văn H3 (là anh trai chồng bà), ông H3 bán lại cho bà M, ông T7. Sau khi mua nhà đất thì ông T7 và bà M ở với nhau thường xuyên và có 01 con gái là chị Ngô Thị H. Bà có nghe nói trước đây ông T7 có vợ cả là bà L1 và có 01 con chung là anh D; còn sau khi ông T7 chết bà mới biết ông T7 còn có con riêng ở nơi khác về chịu tang.

Từ nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/HNGĐ-ST ngày 31-7-2024 của TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 357, 468, 612, 613, 650, 651, 653, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khoá X; các Điều 167, 170, 188 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M đối với anh Ngô Văn T1 và chị Ngô Thị T2 về việc yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế.
  2. Xác nhận Quyền sử dụng thửa đất số 228, tờ bản đồ số 11, diện tích 512m² (gồm đất ONT.312m²; đất TSN.200m²) tại xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 602542 ngày 09/11/2006 đứng tên ông Ngô Văn T7, bà Phạm Thị M có trị giá là 824.000.000 đồng (Tám trăm hai mươi bốn triệu đồng) và các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 diện tích 40m², hiên nhà cấp 4 mái tôn lạnh 12m², công trình vệ sinh 10m², 01 dại lợp ngói 10m², trụ cổng xây gạch 0,352m³ và cánh cổng sắt 6,25m², tường rào dậu bê tông giáp cổng dài 08m, tường rào lưới B40 phía đông dài 30m đều đã xuống cấp không còn giá trị, 01 nhà mái bằng diện tích 45,9m², 01 cây mít to, 03 cây mít nhỏ, 01 cây ổi, 01 cây bưởi là tài sản chung của bà Phạm Thị M và ông Ngô Văn T7.

    Chia tài sản chung của bà Phạm Thị M và ông Ngô Văn T7, mỗi người là 256m² đất có trị giá 412.000.000 đồng (Bốn trăm mười hai triệu đồng).

    Xác nhận di sản thừa kế của ông Ngô Văn T7 là 256m² đất có trị giá 412.000.000 đồng (Bốn trăm mười hai triệu đồng).

    Xác nhận người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất của ông Ngô Văn T7 là bà Phạm Thị M, anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn T1, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị T2, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S. Kỷ phần mỗi thừa kế được chia theo giá trị là 51.500.000 đồng (Năm mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

    Ghi nhận sự tự nguyện của anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S tặng cho bà Phạm Thị M phần di sản thừa kế được chia của ông Ngô Văn T7, không yêu cầu thanh toán giá trị.

  3. Chia cho bà Phạm Thị M được quyền sở hữu, sử dụng: Thửa đất số 228, tờ bản đồ số 11, diện tích 512m² (gồm đất ONT.312m²; đất TSN.200m²) tại xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 602542 ngày 09/11/2006 đứng tên ông Ngô Văn T7, bà Phạm Thị M có trị giá là 824.000.000 đồng (Tám trăm hai mươi bốn triệu đồng) và các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 diện tích 40m², hiên nhà cấp 4 mái tôn lạnh 12m², công trình vệ sinh 10m², 01 dại lợp ngói 10m², trụ cổng xây gạch 0,352m³ và cánh cổng sắt 6,25m², tường rào dậu bê tông giáp cổng dài 08m, tường rào lưới B40 phía đông dài 30m đều đã xuống cấp không còn giá trị, 01 nhà mái bằng diện tích 45,9m², 01 cây mít to, 03 cây mít nhỏ, 01 cây ổi, 01 cây bưởi. Ranh giới đất được giới hạn bởi các điểm (1, 2, 7, 8, 1) ký hiệu S1 trên sơ đồ kèm theo bản án. (Các tài sản trên do bà Phạm Thị M đang quản lý).

    Bà Phạm Thị M có trách nhiệm đăng ký quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai.

    Tạm giao cho bà Phạm Thị M quản lý sử dụng phần đất ký hiệu S2 có diện tích 68m² và các công trình xây dựng trên đất thuộc một phần căn nhà mái bằng 01 tầng diện tích 45,9m²; các đoạn tường rào phía Đông được giới hạn bởi các điểm (2, 3, 4, 5, 6, 7, 2) theo sơ đồ kèm theo bản án để chờ giải quyết của Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền.

  4. Bà Phạm Thị M phải thanh toán giá trị kỷ phần di sản thừa kế cho anh Ngô Văn T1 và chị Ngô Thị T2 mỗi người là 51.500.000 đồng (Năm mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 09/9/2024 bị đơn anh Ngô Văn T1 có đơn kháng cáo với nội dung:

Không nhất trí với bản án sơ thẩm, anh không có tranh chấp với bà M, không đồng ý chia di sản của ông Ngô Văn T7, khi nào việc sang cát cho ông T7 xong sẽ giải quyết di sản của ông T7, Yêu cầu TAND huyện Hải hậu phải trả tiền đi lại về làm việc tại Tòa án là 4.200.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự trong vụ án không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Bị đơn anh Ngô Văn T1 trình bày và tranh luận về yêu cầu kháng cáo như sau: Bản thân anh không có tranh chấp với bà M, không đồng ý chia di sản của ông Ngô Văn T7, khi nào việc sang cát cho ông T7 xong sẽ giải quyết di sản của ông T7.

- Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến, tranh luận như sau: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của anh T1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Xin được miễn án phí dân sự đối với phần di sản thừa kế thừa kế được tặng cho của anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S là 12.875.000 đồng do bà M là người cao tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

+ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.

Về nội dung kháng cáo: Lý do kháng cáo anh Ngô Văn T1 nêu ra không có căn cứ pháp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 309 BLTTDS, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Ngô Văn T1.

Tuy nhiên, áp dụng khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm về án phí theo hướng miễn án phí cho bà Phạm Thị M đối với phần di sản thừa kế được tặng cho của anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S là 12.875.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Kháng cáo của bị đơn anh Ngô Văn T1 làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự tố tụng phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Ngô Văn T1 :

+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án.

+ Về nội dung: Bà Phạm Thị M yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng và chia di sản thừa kế của ông Ngô Văn T7 đối với thửa đất số 228.

[3] Về nguồn gốc tài sản:

Căn cứ lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì Thửa đất số 228 đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 602542 ngày 09/11/2006 đứng tên ông Ngô Văn T7, bà Phạm Thị M. Nguồn gốc đất là do bà M, ông T7 nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn H3 khoảng năm 1992. Tài sản trên đất gồm có 01 nhà cấp 4 diện tích 40m², hiên nhà cấp 4 mái tôn lạnh 12m², công trình vệ sinh 10m², 01 dại lợp ngói 10m², trụ cổng xây gạch 0,352m³ và cánh cổng sắt 6,25m², tường rào dậu bê tông giáp cổng dài 08m, tường rào lưới B40 ở phía Đông dài 30m; 01 căn nhà mái bằng diện tích 45,9m². Ngoài ra trên đất còn có 01 cây mít to, 03 cây mít nhỏ, 01 cây ổi, 01 cây bưởi. Đến nay các đương sự đều thống nhất xác định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên là tài sản chung của bà Phạm Thị M và ông Ngô Văn T7; sau khi ông T7 chết thì bà M quản lý các tài sản trên. Do đó, đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/5/2024 thì diện tích đất thực tế bà Phạm Thị M đang sử dụng là 580m², tăng 68m² so với giấy chứng nhận đã cấp (512m²), diện tích tăng có nguyên nhân là do bà M, ông T7 xây dựng căn nhà mái bằng một tầng (kiểu nhà ống) và tường rào ở phía Đông năm 2019 đã lấn ra đất Mương liền kề (là đất công cộng) nhưng chưa bị chính quyền địa phương xử lý vi phạm, đến nay UBND xã H có ý kiến đề nghị tạm giao phần đất đã xây dựng công trình trên cho đương sự quản lý chờ quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền. Theo kết quả định giá tài sản thì Thửa đất số 228 diện tích 512m² (gồm đất ONT.312m², đất TSN.200m²) có trị giá là 824.000.000 đồng . Các công trình xây dựng trên đất gồm 01 nhà cấp 4 bốn gian ở phía Tây diện tích 40m², hiên nhà cấp 4 mái lợp tôn lạnh 12m², công trình vệ sinh 10m², 01 dại lợp ngói 10m², trụ cổng xây gạch và cánh cổng sắt 6,25m², tường rào dậu bê tông dài 08m, tường rào lưới B40 dài 30m đều đã xuống cấp không còn giá trị và 01 nhà mái bằng một tầng diện tích 45,9m² xây dựng năm 2019 có trị giá 85.600.000 đồng. Ngoài ra trên đất còn có 01 cây mít to trị giá 600.000 đồng, 03 cây mít nhỏ tổng trị giá 570.000 đồng, 01 cây ổi trị giá 75.000 đồng, 01 cây bưởi trị giá 150.000 đồng. Đối với căn nhà mái bằng một tầng ở phía Đông có một phần nhà xây dựng trái phép trên đất công cộng, trong đó phần đất công bị lấn chiếm kéo dài theo toàn bộ chiều dài căn nhà và có chiều rộng từ 01m đến 02m do đó nếu phải tháo rỡ phần công trình vi phạm để trả lại đất công cộng thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ kết cấu an toàn của căn nhà và căn nhà sẽ không còn giá trị sử dụng; mặt khác các đương sự cũng thống nhất sẽ chấp hành theo yêu cầu xử lý của chính quyền địa phương, không yêu cầu chia tài sản trên đất là các công trình xây dựng và cây cối nên Hội đồng xét xử không xem xét chia giá trị tài sản trên đất.

[5] Ông Ngô Văn T7 đã chết, di sản của ông T7 chưa được phân chia nên bà M yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của ông T7 đối với thửa đất số 228 là có căn cứ chấp nhận. Do không có chứng cứ chứng minh công sức đóng góp của các chủ sở hữu chung nên được xác định có công sức ngang nhau, do đó bà M và ông T7 mỗi người được chia 1/2 tài sản chung, phần của mỗi người được chia theo giá trị là 824.000.000 đồng : 2 = 412.000.000 đồng. Các đương sự thống nhất ông T7 chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của ông T7 được chia theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Về người thừa kế theo pháp luật của ông Ngô Văn T7:

Ông Ngô Văn T7, sinh năm 1950, chết ngày 25/10/2019. Theo lời trình bày thống nhất của các đương sự và người làm chứng thì ông T7 đã có quan hệ tình cảm với 04 người phụ nữ, cụ thể: C1 sống với bà Hoàng Thị L1 (đã chết năm 1980) và có 01 con chung là anh Ngô Văn D, sinh năm 1973; chung sống với bà Phạm Thị M và có 03 con chung là chị Ngô Thị C, sinh năm 1982 (đã chết khi được 01 tháng tuổi), chị Ngô Thị H, sinh năm 1987 và chị Ngô Thị T8, sinh năm 1989 (đã chết khi được 06 tuổi); chung sống với bà Lã Thị D1 và có 02 con chung là anh Ngô Văn T1, sinh năm 1977 và chị Ngô Thị T2, sinh năm 1987; chung sống với bà Lâm Thị M1 và có 01 con chung là chị Ngô Thị S, sinh năm 1990, ông T7 còn nhận hai người con riêng của bà M1 làm con nuôi là anh Ngô Văn Q, sinh năm 1980 và chị Ngô Thị T3, sinh năm 1983 và đã đăng ký tên cha trong giấy khai sinh của anh Q, chị T3. Bố mẹ đẻ ông T7 đều đã chết trước ông T7.

Xét thấy, việc ông T7 có quan hệ chung sống như vợ chồng với bà Hoàng Thị L1, bà Phạm Thị M, bà Lã Thị D1, bà Lâm Thị M1 nhưng không có căn cứ xác định ông T7 có đăng ký kết hôn với ai. Tuy nhiên các đương sự và người làm chứng đều thừa nhận ông T7 chung sống như vợ chồng với bà Hoàng Thị L1 đầu tiên và có 01 con chung là anh D sinh năm 1973, bà L1 chết năm 1980. Như vậy ông T7 và bà L1 có quan hệ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987; căn cứ điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khoá X hướng dân thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì ông T7 và bà L1 có quan hệ hôn nhân thực tế, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Sau khi bà L1 chết năm 1980, ông T7 có quan hệ chung sống như vợ chồng với bà M, bà D1, bà M1 và đều có con chung với những người trên nhưng căn cứ lời khai của các đương sự, người làm chứng thì ông T7 và bà M có tổ chức lễ cưới tại gia đình và thường xuyên chung sống với nhau tại xóm I, xã H, huyện H từ khoảng cuối năm 1980 cho đến khi ông T7 chết năm 2019, công khai mối quan hệ như vợ chồng với họ hàng và hàng xóm láng giềng nên việc ông T7 và bà M chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 cũng được xác nhận là có quan hệ hôn nhân thực tế, được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội khoá X. Trong khoảng thời gian ông T7 có quan hệ chúng sống với bà M, bà D1 và bà M1 thì theo quy định tại các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986, năm 2000 và năm 2014đều công nhận chế độ một vợ, một chồng. Do đó việc ông T7 đã có vợ là bà Phạm Thị M nhưng vẫn có có quan hệ chung sống như vợ chồng với bà D1 và bà M1 là trái pháp luật nên bà D1 và bà M1 không phải là vợ của ông T7.

Căn cứ quy định tại Điều 651, Điều 653 của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất của ông Ngô Văn T7 là bà Phạm Thị M, anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn T1, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị T2, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S. Do đó di sản của ông Ngô Văn T7 được chia theo pháp luật thì mỗi suất thừa kế được chia theo giá trị là 51.500.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S đều có ý kiến đồng ý tặng cho bà Phạm Thị M toàn bộ kỷ phần thừa kế được chia của ông Ngô Văn T7, không yêu cầu bà M thanh toán giá trị, bà M đồng ý nhận nên được ghi nhận.

[7] Về yêu cầu chia hiện vật của nguyên đơn: Bà Phạm Thị M có yêu cầu được sử dụng toàn bộ thửa đất số 228 và đồng ý thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho anh Ngô Văn T1, chị Ngô Thị T2. Xét thấy, bà M hiện tuổi đã cao, đang sinh sống ổn định trên thửa đất và không còn chỗ ở nào khác. Mặt khác có năm người thừa kế khác đồng ý tặng cho bà M sử dụng toàn bộ kỷ phần thừa kế của họ được chia; còn bị đơn anh Ngô Văn T1, chị Ngô Thị T2 đều đã có chỗ ở riêng, kỷ phần thừa kế của họ nếu chia bằng hiện vật mỗi người chỉ có 32m² đất là không đủ điều kiện diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của địa phương. Do đó cần giao cho bà Phạm Thị M sử dụng toàn bộ thửa đất và các công trình xây dựng gắn liền với đất, đồng thời bà M có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho anh T1, chị T2 theo quy định pháp luật là phù hợp.

[8] Đối với phần diện tích đất tăng thêm 68m² so với giấy chứng nhận đã cấp cho ông T7, bà M có nguyên nhân là do khi xây nhà và tường rào phía Đ đã lấn ra đất Mương (là đất công). UBND xã H xác nhận việc xây nhà trên đất công là trái phép nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc tháo rỡ công trình mà đề nghị tạm giao cho đương sự quản lý sử dụng phần diện tích đất tăng thêm để chờ quyết định xử lý vi phạm của cơ quan có thẩm quyền. Do đó cần tạm giao cho đương sự quản lý chờ thực hiện theo quyết định của Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền.

Anh Phạm Văn T9 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Bản thân anh T9 trình bày không có tranh chấp với bà M nhưng bà M lại khởi kiện anh nên anh không đồng ý chia di sản của ông Ngô Văn T7, khi nào việc sang cát cho ông T7 xong sẽ giải quyết di sản của ông T7, bản thân anh hiện tại không có yêu cầu gì.

Do đó, kháng cáo của anh Ngô Văn T1 không có căn cứ pháp lý nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Đối với yêu cầu của anh T1 yêu cầu TAND huyện Hải hậu phải trả tiền đi lại về làm việc tại Tòa án là 4.200.000₫ nằm ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm cũng không được HĐXX chấp nhận

Tuy nhiên,HĐXX thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 sửa án sơ thẩm về án phí, miễn án phí cho bà Phạm Thị M đối với phần di sản thừa kế được tặng cho của anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S là 12.875.000 đồng do bà Ngô Thị M2 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Ngô Văn T1 không được chấp nhận nên phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 309 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là anh Ngô Văn T1;
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 31-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định về phần án phí. Miễn án phí cho bà Phạm Thị M đối với phần di sản thừa kế được tặng cho của anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S là 12.875.000 đồng.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm:Anh Ngô Văn T1 phải nộp 300.000 đồng, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh T1 đã nộp tại biên lai số 0003304 ngày 17-9-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, anh Ngô Văn T1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

M3

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh NĐ
  • - TAND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 49/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là anh Ngô Văn T1; 2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 31-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định về phần án phí. Miễn án phí cho bà Phạm Thị M đối với phần di sản thừa kế được tặng cho của anh Ngô Văn D, anh Ngô Văn Q, chị Ngô Thị T3, chị Ngô Thị H và chị Ngô Thị S là 12.875.000 đồng. 3. Án phí dân sự phúc thẩm:Anh Ngô Văn T1 phải nộp 300.000 đồng, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh T1 đã nộp tại biên lai số 0003304 ngày 17-9-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, anh Ngô Văn T1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger