Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/DS-PT

Ngày: 19/6/2025.

V/v: “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh và ông Lê Ngọc Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/ DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá bị kháng nghị và kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thị L - sinh năm 1955.

Địa chỉ: Khu phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người được nguyên đơn ủy quyền (nhận và giao các văn bản tố tụng): Bà Đinh Thị N - sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số nhà A N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Trọng K - sinh năm 1961.
  2. Người được ông K ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng L1 - sinh năm 1990. Có mặt.

  3. Bà Đào Thị T – sinh năm 1965.
  4. Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Thành Đ - Chủ tịch UBND phường Q.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị M - Phó Chủ tịch UBND phường Q. Vắng mặt.

Địa chỉ nơi công tác: UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa .

  1. Ông Đinh Thanh S - sinh năm 1954.
  2. Địa chỉ: Khu phố C, phương Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

    Người được ông S ủy quyền: Bà Đinh Thị N – sinh năm 1980.

    Địa chỉ: Số nhà A N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nhận giao văn bản tố tụng) Có mặt.

  3. Anh Nguyễn Trọng L1 – sinh năm 1990.
  4. Địa chỉ: Khu phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Bà Đào Thị H – sinh năm 1972. Có mặt
  2. Ông Đinh Thanh L2 – sinh năm 1949. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1996. (ủy quyền cho ông K).
  4. Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

  5. Bà Đinh Thị Y – sinh năm 1946. Vắng mặt.
  6. Địa chỉ: Số nhà 06 ngõ 27 phố Đinh Lễ, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  7. Bà Đào Thị T1 – sinh năm 1958. Vắng mặt.
  8. Địa chỉ: Số nhà A ngõ I phố H, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. (Bà T1 đã ủy quyền cho bà H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Hà Thị L trình bày.
  2. Theo bản đồ 299, đo vẽ năm 1985, tờ bản đồ số 6, thuộc thửa đất số 309, diện tích 578m² và thửa đất số 310, có diện tích 448m² loại đất (T) và năm 1994 Nhà nước đo vẽ lại là số thửa 495, tờ bản đồ số 5, diện tích 1017m², loại đất (T) đất ở nông thôn mang tên ông Đinh Thanh S. Ngoài ra trên mảnh đất còn có một căn nhà cấp 4 trên diện tích khoảng 330m². Địa chỉ thửa đất tại: Thôn C, xã Q, huyện Q, (Nay là Khu phố C, phường Q, thành phố S), tỉnh Thanh Hóa. Toàn bộ diện tích đất nêu trên tôi chưa sang tên chuyển nhượng cho ai nhưng ngày 13 tháng 8/2013 UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T. Ông K1 và bà T đã xây dựng nhà cửa và các công trình khác trên đất của tôi từ năm 2013.

    Vì quyền lợi của tôi bị xâm phạm nên tôi làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BO49825 do UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, cấp ngày ngày 13/8/2013 mang tên ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T và đã được Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa; Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

    khác gắn liền với đất số: BO49825 ngày 13/8/2013 do UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T, nhưng đến nay ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T vẫn không trả lại 1017m² đất cho tôi.

    Ngày 30/8/2019, bà L bổ sung đơn khởi kiện; Ngoài diện tích đất nêu trên gia đình tôi còn khai hoang phát quang cồn bờ bụi rậm lúc bấy giờ và đào ao nuôi bèo thả cá cùng nằm trong khuôn viên liền kề diện tích 1017m² nói trên và các mốc giới giữa gia đình tôi và các hộ liền kề vẫn giữ nguyên từ trước đến nay không có tranh chấp hay lấn chiếm gì với nhau nên nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông K1 và bà T phải trả lại cho gia đình tôi

    Ngày 19/12/2019 (BL137; 138), tôi (L) không yêu cầu xem xét giải quyết theo nội dung bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 30/8/2019 về diện tích đất khai hoang vỡ hóa hiện nay nhà nước đã cấp cho ông Nguyễn Trọng K nữa, mà tôi chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K và bà T phải có trách nhiệm trả lại 1017m² cho tôi.

    Quá trình giải quyết vụ án, bà L và ông S thỏa thuận thống nhất trong 1017m² đất, xét thấy hiện nay chú K và cô T đã làm nhà cửa và phát sinh tài sản khác trên đất từ năm 2013. Nay, yêu cầu chú K và cô T trả lại cho bà L một phần diện tích đất, còn phần diện tích đất của ông S thì chuyển nhượng lại cho ông K và bà T về phía có căn nhà hiện nay chú K và cô T đang ở cho tiện việc sử dụng, phần diện tích còn lại để lại làm lối đi chung cho cả hai gia đình ông K, bà T và gia đình bà L để tiện việc sử dụng.

  3. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông K và bà T, trình bày: Ngày 15/11/1996, vợ chồng tôi (Đào Thị T và Nguyễn Trọng K), được anh Đinh Thanh S là anh trai tôi (T) viết giấy chuyển nhượng nhà đất với nội dung: “Hiện nay do không có nhu cầu sử dụng đồng thời tôi cần số tiền để xây dựng nhà ở mới. Do vậy tôi đồng ý bán toàn bộ khu nhà ở cùng với diện tích đất gắn liền khu nhà đó, phía Tây giáp nhà Cô V; phía Đông giáp đất hợp tác xã; phía Bắc giáp đất nhà ông C và ông V1, phía nam giáp nhà ông C1, anh L3 cho vợ chồng chú K và cô T, với số tiền là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Tôi làm giấy này đề nghị các cơ quan hữu trách tạo điều kiện cho T, chú K được đứng tên sử dụng đồng thời chịu trách nhiệm nộp thuế cho nhà nước”. Người bán ký tên: Đinh Thanh S. (BL 36).
  4. Và vợ chồng tôi trả tiền cho anh S làm 2 đợt, đợt 1 là 10 triệu đồng, đợt 2 đưa nốt số tiền còn lại cho anh S tại nhà anh S có cả mặt bà L, sau khi anh S nhận đủ 25.000.000đồng thì anh S viết giấy nhận tiền đề ngày 15/11/1996 (BL 35). Nay, bà Hà Thị L đòi lại 1017m² đất, chúng tôi không đồng ý vì tại thời điểm ông S chuyển nhượng đất cho chúng tôi là đúng theo quy định của pháp luật và quá trình giải quyết vụ án anh S thống nhất quan điểm và hoàn toàn đứng về phía chúng tôi nên việc anh S ủy quyền cho bà Đinh Thị N là không đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đinh Thanh S, trình bày: Tôi thừa nhận trước đây tôi có bán đất và căn nhà cấp 4 trên toàn bộ diện tích đất có căn nhà khoảng 330m² cho em gái tôi là T và em rể tôi là K như giấy chuyển nhượng nhà đất đề ngày 15/11/1996 là đúng, nhưng quá trình giải quyết vụ án tôi nhận ra việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất ngày 15/11/1996 cho chú K và cô T là sai trái đối với bà L vợ tôi và sai trái đối với pháp luật vì trong tài sản chuyển nhượng cho cô T và chú K có cả tài sản của bà L. Trong khi không được sự đồng ý của bà L. Nay, tôi nhận thức ra và hoàn toàn đồng ý theo quan điểm của bà L và vẫn tiếp tục ủy quyền cho con giái tôi là Đinh Thị N tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quan điểm của tôi là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.

- Anh Nguyễn Trọng L1, trình bày: Trong quá trình bố mẹ tôi xây dựng nhà cửa năm 2013, lúc đó tôi đang lao động xuât khẩu bên Đài Loan, tôi có gửi tiền về cho bố mẹ tôi làm nhà nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật và tại phiên tòa tôi đồng ý theo quan điểm của mẹ tôi.

- Ông Nguyễn Trọng K được anh Nguyễn Hồng Q ủy quyền, trình bày: Anh Q không có đóng góp gì vào tài sản chung của gia đình, do đó đề nghị Tòa án không đưa anh Q vào là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

- UBND phường Q cung cấp tài liệu chứng cứ về thông tin thửa đất đang có tranh chấp như sau (BL551):

+ Hồ sơ địa chính, sổ mục kê, bản đồ đo vẽ năm 1985 và 1994, diện tích 1017m², loại đất T mang tên ông Đinh Thanh S.

+ Hồ sơ địa chính 2002 diện tích 1017m², loại đất T, có việc tẩy xóa tại sổ mục kê và ghi lại chủ sử dụng Đào Thị T.

+ Ngày 13/8/2013 UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy CNQSDĐ số BO 498259 cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T.

+ Hồ sơ địa chính năm 2015 chủ sử dụng Nguyễn Văn K1.

- Phòng tài nguyên và Môi trường thành phố S cung cấp tài liệu chứng cứ về thông tin thửa đất đang có tranh chấp theo yêu cầu của Tòa án, bao gồm: Công văn số 77/CV-TNMT ngày 17/01/2023; Công văn số 1134/CV-TNMT ngày 08/8/2023; Công văn số 2090/CV-TNMT ngày 20/12/2023.

Hồ sơ đo đạc theo Chỉ thị 299/TTg:

+ Thửa đất số 309, tờ bản đồ số 6, diện tích 578m², loại đất T, chủ sử dụng ông Đinh Thanh S.

+ Thửa 310, diện tích 448m², loại đất T, chủ sử dụng đất, sổ mục kê không ghi tên chủ sử dụng.

+ Hồ sơ địa chính xã Q đo đạc năm 1994: Thửa đất số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.017m², loại đất T, chủ sử dụng đất Đinh Thanh S.

+ Hồ sơ địa chính xã Q đo đạc năm 1002: Thửa đất số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.017m², loại đất T, chủ sử dụng đất trong sổ mục kê lưu tại phường có tẩy sửa và ghi Đào Thị T.

  1. Những người làm chứng bà Đào Thị H, Đinh Thị Y, Đinh Thị T2 đều trình bày: Trong 1017m² đất mà bà L khởi kiện có một phần diện tích đất của bố mẹ chúng tôi để lại cho anh S canh tác chứ không giao quyền sử dụng đất cho anh S. Đều thống nhất giao lại toàn bộ số đất vườn lại cho bà Đào Thị T được quyền sử dụng số đất vườn trên (BL 562).

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo yêu cầu của nguyên đơn kết quả như sau:

  1. Về thẩm định đất: Đất có diện tích 1017m², cạnh phía đông 22m giáp thửa đất số 384 đất anh K1; cạnh phía tây 25m giáp thửa đất 1309 nhà bà V và ông H1; cạnh phía Nam 43,3m giáp thửa đất số 1392; 1389; 1387 nhà bà L4, ông L, bà N1; cạnh phía bắc 42,8m giáp thửa đất số 1307; 1252 nhà ông H2, bà H3.
  2. - Về định giá đất: Hội đồng định giá thuộc UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, căn cứ theo quyết định số 44/2019/QĐ-UBND ngày 23/12/2019 của UBND tỉnh T quy định về bảng giá các loại đất thời kỳ 2020 đến 2024 tại vị trí thửa đất tại thời điểm định giá đất ở là 1.000.000 đồng/m² (Một triệu đồng một mét vuông).

  3. Về thẩm định tài sản trên đất là:
  4. - Một căn nhà 02 tầng xây dựng năm 2013, xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, nền nhà lát gạch men, tường nhà lăn sơn, cấp điện nước hoàn thiện, diện tích xây dựng là 153m², cạnh phía nam 6m + 2,2m + 4m giáp sân; cạnh phía đông 4m + 3,8 m + 0,85m + 0,6m giáp sân; cạnh phía tây 19,25m giáp phần đất còn lại; cạnh phía bắc 9m giáp phần đất còn lại, tường ốp gỗ dài 41m cao 0,9m.

    - Về định giá tài sản là căn nhà 02 tầng nêu trên: Hội đồng định giá thuộc UBND thuộc UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, áp dụng tương tự theo quy định tại Thông tư số 23/2023/TT-BTC ngày 25/4/2023 quy định và hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định và Quyết định số 11/2023/QĐ-UBND ngày 10/4/2023 của UBND tỉnh T quy định về việc Ban hành đơn giá xây dựng nhà và các công trình xây dựng làm cơ sở xác định giá trị bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước có việc thu hồi đất. Cụ thể căn nhà 2 tầng vật liệu xây dựng bằng bê tông cố thép kiên cố, chủ sở hữu kê khai xây dựng năm 2013, mái đổ bê tông chéo lợp ngói, móng bê tông cốt thép, khung cột bê tông cốt thép chịu lực, tường xây gạch chỉ D220 kết hợp D 110, tường lăn sơn bả ma tít, nền lát gạch men, câp thoát điện nước đầy đủ hoàn thiện, có diện tích xây dựng tầng 1 có diện tích là 123,62m² (theo đo đạc thực tế); tầng 2 có diện tích là 93,70m².

    Định giá: 123,62m² + 93,7m² x 6.262.000đ/m2 x 60% giá trị còn lại là: 816.515.000 đồng (T3 trăm, mười sáu triệu, năm trăm mười lăm nghìn đồng).

  5. Thẩm định bán bình lợp tôn xây dựng năm 2014: Có tổng diện tích 39,2m², cạnh phía đông 5,6m giáp đất còn lại; cạnh phía tây 5,6m giáp nhà 2 tầng; cạnh phía nam 7m giáp sân; cạnh phía bắc 7m giáp nhà ông T4;

Định giá: 39,2mv x 347.000đ/mv x 20% gt còn lại = 2.720.480đồng;

  1. Thẩm định chuồng trại:
    • Chuồng trại 1: Xây dựng năm 2013, có tổng diện tích xây dựng là 28.08m², cạnh phía đông 5,2m giáp chuồng trại 2; cạnh phía tây 5,2 m giáp đất còn lại; cạnh phía nam 5,4m giáp đất còn lại; cạnh phía bắc 5,4m giáp đất bà H3.
    • Chuồng trại 2: Xây dựng năm 2014, có tổng diện tích 52,56m²; cạnh phía đông 7,3m giáp chuồng trại 3; cạnh phía tây 7,3m giáp chuồng trại 2; cạnh phía nam 7,2m giáp phần đất còn lại; cạnh phía bắc 7,2m giáp đất trống.
    • Chuồng trại 3: Xây dựng năm 2014, có tổng diện tích 12m².

    * Định giá cả 3 chuồng trại là: (28,08m² + 52,56m² + 12m² x 508.000đ/m² x 40% gía trị còn lại = 18.824.448đồng.

  2. Thẩm định, định giá sân lát bằng gạch bát hạ long xây dựng năm 2013: Kích thước 400 x 400, có tổng diện tích 262,7m².
  3. Định giá: (262,7m² x 136.000đ/m² = 35.727.000đồng x 20% gía trị còn lại = 7.145.000 đồng;

  4. Thẩm định và định giá tường rào: Xây bằng gạch chỉ D110 kích thước: là (2,7 + 22,2 + 25,8 + 13,7 + 42,8) x 2m = 214,4 m² x 255.000đồng/m² = 54.672.000đồng x 20% giá trị còn lại = 10.934.000đồng.
  5. Cánh cổng sắt: 2,7m x cao 2,4m = 6,48m² xây dựng năm 2013.
  6. Định giá: 6,48m² x 459.000đồng/m² = 2.974.320đồng x 20% gía trị còn lại = 594.864đồng.

  7. Các loại cây: Áp dụng tương tự theo quyết định số 11/2020/QĐ - UBND ngày 20/3/2020 của UBND tỉnh T quy định về việc ban hành đơn giá bồi thường về các loại cây trồng.
  8. Cụ thể: 11 cây cau x 184.000đ/cây = 2.024.000đồng; 02 cây lọc vừng x 638.000đ/cây = 1.276.000đ; 01 cây hoa hòe = 180.000đ; 01 cây vú sữa = 120.000đ; 04 cây mít x 500.000đ/cây = 2.000.000đ; 02 cây nhãn x 373 = 746.000đồng; 01 cây khế = 180.000đồng; 05 cây na x 199.000đ/cây = 995.000đồng; 01 cây bưởi = 420.000đồng.

    Tổng cộng giá trị tài sản là: 1.881.674.792đồng. (Một tỷ, tám trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm bảy mươi bốn nghìn, bảy trăm chín hai đồng).

    (Tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ không còn căn nhà cấp 4 trên diện tích 330m² như phản ánh của nguyên đơn không còn tồn tại vì gia đình ông K1 và bà T đã đến ở trên mảnh đất này từ năm 1996, năm 2013 đã xây dựng công trình nhà ở và các tài sản khác. Do đó không có căn cứ để xem xét).

    Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/ DS -ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; 35; 39; 147; 227; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 36; 38 Luật đất đai năm 1993; Điều 11; 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 10; 137; 138; 236 Luật đất đai năm 2024. Điều 131; 133; 134; 136; 137; 139; 146 ; 172; 173; 175; 176; 178; 179; 229; 230; 236; 238; 241; 242; 263; 264; 286; 400; 401; 408;

    409; 443; 444; 445; 690; 691; 692; 693; 695; 696; 697; 705; 707; 708; 709 của BLDS năm 1995. Nghị định 43/2014/NĐ - Cp ngày 15/5/2014; Quyết định số 4463/QĐ - UBND ngày 1212/2014; Quyết định số 2072/2015/QĐ-UBD ngày 08/6/2015 và Quyết định số: 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh T. Điều 12; 24; 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, qui định về án phí và lệ phí Tòa án.

    - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện và sự thỏa thuận giữa bà L và ông S trong quá trình giải quyết vụ án.

    - Buộc ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T phải giao trả lại cho bà Hà Thị L 505m² đất. Trong đó cạnh phía đông 22m giáp phần đất nhà ông K1, cạnh phía tây 22,83m giáp đất nhà ông K1 và bà T, cạnh phía nam 21,6m giáp đất nhà ông L, bà L4, bà N1; cạnh phía bắc 21,2m giáp đất ông H2, bà H3 (Có sơ đồ kèm theo).

    - Ông Nguyễn Trọng K và bà Đào Thị T, được quyền sử dụng (Sau khi trừ diện tích làm lối đi chung), là 447m² đất. Trong đó cạnh phía đông 19,83m giáp đất nhà bà L, cạnh phía tây 22m giáp ông H1 và bà V, cạnh phía nam 21,7m giáp ngõ đi chung của cả hai gia đình ông K, bà T và gia đình bà L, cạnh phía bắc 21,63m giáp đất đất ông H2, bà H3 (Có sơ đồ kèm theo). Và toàn bộ căn nhà ở 02 tầng xây dựng năm 2013 và các tài sản khác hiện nay đang tồn tại trên phần diện tích đất của ông K và bà T được nhận và yêu cầu ông T và bà Khánh T5 tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất của bà L nếu sau khi án có hiệu lực pháp luật ông K và bà T không tự tháo dỡ bà L có quyền nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyêt theo quy định của pháp luật.

    - Diện tích lối ngõ đi chung giao lại cho cả hai gia đình là gia đình ông Nguyễn Trọng K, bà Đào Thị T và gia đình bà Hà Thị L là 65m², Trong đó cạnh phía đông 3m, cạnh phía tây 21,7m. cạnh phía nam 21,7m, cạnh phía bắc 3m, kéo dài nối liền ra đến ngõ đi chung trước đây của gia đình bà L và gia đình ông K, bà thủy. (Có sơ đồ kèm theo).

    Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

    * Ngày 11/01/2025 bị đơn bà Đào Thị T có đơn kháng cáo đề nghị xét xử lại phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-St ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

    * Ngày 14/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố sầm S1, tỉnh Thanh Hóa có quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS với nội dung:

    - Kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số18/2024/DS-St ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

    Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm theo hướng: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-St ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

    Sau khi xử sơ thẩm Viện kiểm sát nhân dân thành phố S tỉnh Thanh Hóa kháng nghị trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

    [3]. Xét về nội dung thay đổi kháng cáo của bị đơn và thay đổi kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

    * Về nguồn gốc đất:

    - Các đương sự đều công nhận ông Đinh Thanh S và bà Hà Thị L là vợ chồng có khối tài sản được hình thành khoản năm 1977, do HTX Nông nghiệp cấp, diện tích khoảng 10 thước. Đến năm 1980 thì làm nhà trên đất diện tích nhà khoảng 330m². Theo Hồ sơ đo đạc chỉ thị 299/TTg thửa đất số 309, tờ bản đồ số 6, diện tích 578m², loại đất T, chủ sử dụng ông Đinh Thanh S.

    - Thửa đất số 310, tờ bản đồ số 6, diện tích 448m², loại đất T, chủ sử dụng đất, sổ mục kê không ghi tên chủ sử dụng. Các đương sự đều công nhận thửa đất này là của 3 cụ là cụ T5, cụ G và cụ C1.

    - Hồ sơ địa chính xã Q đo đạc năm 1994: Thửa đất số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.017m², loại đất T, chủ sử dụng đất Đinh Thanh S.

    - Hồ sơ địa chính xã Q đo đạc năm 2002: Thửa đất số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.017m², loại đất T, chủ sử dụng đất trong sổ mục kê lưu tại phường có tẩy sửa và ghi Đào Thị T.

    - Ngày 13/8/2013, UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số BO 49825 do UBND huyện Q cấp ngày 13/8/2013 cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T. Tại bản án số 26/2017/HC-ST ngày 09/6/2017 của TAND tỉnh Thanh Hóa và Bản án số 169/2018/HC-PT ngày 15/5/2018, TAND cấp cao tại Hà Nội đã hủy GCNQSDĐ số BO 49825 do UBND huyện Q cấp ngày 13/8/2013 cho ông Nguyễn Văn K1 và bà Đào Thị T đối với thửa đất số 495, tờ bản đồ số 5, diện tích 1017m² tại thôn C, xã Q, huyện Q (N là thành phố S), tỉnh Thanh Hóa.

    + Bà Hà Thị L khai là các cụ đã cho vợ chồng bà phần đất này nên hồ sơ địa chính xã Q đo đạc năm 1994: Thửa số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.017m², loại đất T, chủ sử dụng đất Đinh Thanh S.

    + Theo biên bản họp gia đình ngày 13/02/2016 tất cả hàng thừa kế thứ nhất của cụ G đều thống nhất giao lại toàn bộ cho chị T được sử dụng. Ông S khẳng định phần đất này của các cụ để lại không có di chúc, ông đứng tên trên bản đồ và sổ mục kê, nhưng thời điểm này các cụ vẫn còn sống và giao cho vợ chồng ông sử dụng đến khi ông chuyển nhượng đất cho vợ chồng anh K1 và chị T thì ông S giao luôn cho chị T và anh K1 quản lý và sử dụng.

    * Về chuyển nhượng đất: Ông S thừa nhận trước đây có bán đất và căn nhà cấp 4 trên toàn bộ diện tích đất có căn nhà khoảng 330m² như giấy chuyển nhượng nhà đất đề ngày 15/11/1996 cho chị T và anh K1 là đúng.

    - Tại phiên tòa phúc thẩm chị T khai là chỉ nhận chuyển nhượng của ông S diện tích 578m², loại đất T, chủ sử dụng ông Đinh Thanh S. Phần đất còn lại là

    của bố mẹ chị để lại, ông S chỉ giao lại cho chị sử dụng phần đất này không phải chuyển nhượng tổng diện tích đất là 1017m².

    - Căn cứ vào giấy chuyển nhượng nhà đất và giấy nhận tiền đề ngày 15/6/1996 anh K1 và chị T đã trả đủ 25.000.000₫ cho ông S và gia đình ông S đã giao đất và nhà cho anh K1 và chị T ở từ năm 1996, năm 2013 anh K1 và chị T đã làm nhà kiên cố trên đất và ở cho đến nay. Theo án lệ số 55/2022/AL được hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố theo quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: Tại thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất thì ông S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏa thuận là không tuân thủ về hình thức được quy định khoản 1 Điều 502 BLDS 2015 nhưng các bên đã thực hiện việc giao dịch trả đủ tiền và đã giao nhà đất cho nhau nên giao dịch được công nhận hiệu lực. Như kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

    - Ông S khẳng định là khi chuyển nhượng nhà đất cho anh K1 và chị T bà L có biết, khi giao cho ông số tiền 10.000.000đ có mặt bà L. Còn khi ông nhận 15.000.000đ còn lại thì bà L không có nhà nên không biết. Toàn bộ số tiền này ông dùng vào xây dựng nhà đang ở hiện tại, ông không chi tiêu riêng, các con ông đều công nhận việc này.

    - Bà L khai rằng bà không biết việc ông S bán nhà và đất nhưng bà thừa nhận có nhận tiền một lần, số tiền 10 triệu, tại nhà sau đó ông sót hỏi tiền bà đưa lại để cho ông S trả lại cho anh K1, chị T và bà khẳng định năm 2002 anh K1, chị T đến ở trên khu đất của gia đình bà, đến năm 2013 thì anh K1 và chị T phá ngôi nhà này để làm nhà mới như hiện nay. Bà L không chứng minh được chị đã đưa ra ý kiến phản đối khi anh K1 và chị T đến ở nhà mình và làm nhà mới nên xác định là chị đồng ý với việc chuyển nhượng nhà và đất theo án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 được công bố theo quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao mà Viện kiểm sát áp dụng kháng nghị là có căn cứ.

    - Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên thay đổi kháng nghị đề nghị sữa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L và sự thỏa thuận giữa bà L và ông S trong quá trình giải quyết vụ án.

    - Tại phiên tòa bị đơn thay đổi đề nghị sữa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L và sự thỏa thuận giữa bà L và ông S trong quá trình giải quyết vụ án.

    Từ những căn cứ như trên HĐXX xét thấy:

    - Nhà và đất của vợ chồng ông S và bà L ở Thửa số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích diện tích 578m², loại đất T, chủ sử dụng ông Đinh Thanh S nên ông S và bà L đã chuyển nhượng phần đất này cho anh K1 và chị T theo giấy chuyển nhượng nhà đất ngày 15/11/1996 là có căn cứ nên giao dịch này được công nhận hiệu lực là đúng quy định của pháp luật.

    - Phần đất còn lại là của 3 cụ (cụ T5, G và C1) những người trong hàng thừa kế thứ nhất đều khai là chỉ giao cho ông S sử dụng không phải cho ông S và bà L. Ông S khai là chưa bao giờ các cụ bảo cho, nhưng theo phong tục tập quán thì chỉ cho con trai và đã có tên trong số mục kê, như chứng cứ hiện tại trong hồ sơ là chưa đủ để khẳng định là tài sản của ông S và bà L nên các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

    Từ những phân tích như trên HĐXX có cơ sở kết luận:

    - Chấp nhận thay đổi kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và thay đổi kháng cáo của bị đơn. Sữa Bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 về việc chấp nhận tòa bộ diện tích 1017m² đất là của ông S và bà L nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện và sự thỏa thuận giữa bà L và ông S trong quá trình giải quyết vụ án vì chưa xem xét đánh giá hết chứng cứ. Theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L và sự thỏa thuận giữa bà L và ông S trong quá trình giải quyết vụ án.

    Cụ thể:

    - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hà Thị L về việc buộc anh K1 và chị T phải trả lại 1017 m 2 hiện tại thửa số 495, thuộc bản đồ số 05 bởi vì: Nhà và đất của vợ chồng ông S và bà L ở Thửa số 495, tờ bản đồ số 05, diện tích diện tích 578m², loại đất T, chủ sử dụng ông Đinh Thanh S đã chuyển nhượng cho anh K1 và chị T. Phần đất còn lại hiện chưa đủ căn cứ để khẳng định là tài sản của ông S và bà L.

    - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc thỏa thuận trong quá trình giải quyết vụ án vì bất lợi cho bị đơn là bà L và ông S thỏa thuận thống nhất trong 1017m² đất, xét thấy hiện nay anh K1 và chị T đã làm nhà cửa và phát sinh tài sản khác trên đất từ năm 2013. Nay, yêu cầu anh K1 và chị T trả lại cho bà L một phần diện tích đất, còn phần diện tích đất của ông S thì chuyển nhượng lại cho anh K1 và chị T về phía có căn nhà hiện nay anh K1 và chị T đang ở cho tiện việc sử dụng, phần diện tích còn lại để lại làm lối đi chung cho cả hai gia đình anh K1, chị T và gia đình bà L để tiện việc sử dụng.

    * Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX là có căn cứ pháp luật.

    [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 và khoản 2 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26, Điều 27, khoản 2 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Bị đơn chị Đào Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Nguyên đơnbà Hà Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn vì người cao tuổi.

    Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của chị Đào Thị T được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo biên lai số 0001298 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ: Điều 293, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Chấp nhận kháng cáo của bị đơn và chấp nhận thay đổi kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa.

    Căn cứ: Điều 5, khoản 9 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 272; Điều 273, Điều 227, Điều 229, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 73 Luật Đất đai năm 1993, 106 Luật Đất đai năm 2003, Điều 100 và Điều 167 Luật Đất đai 2013; Điều 116; khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 27, khoản 2 Điều 29, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Xử:

    1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị L về việc đòi lại 1017 m² và sự thỏa thuận giữa bà Hà Thị L và ông Đinh Thanh S trong quá trình giải quyết vụ án như bản án sơ thẩm đã chia.
    2. Về án phí:
      1. Chị Đào Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm, hoàn trả 300.000đ tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án chị T đã nộp theo biên lai số 0001298 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.
      2. Bà Hà Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - Các đương sự;
    • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
    • - TAND, VKSND cấp cao HN;
    • - TAND,VKSND Tp Sầm Sơn;
    • - Chi cục THADS Tp Sầm Sơn;
    • - Lưu hồ sơ vụ án.

    T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

    Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 49/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger