|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/DS-PT Ngày 06 tháng 3 năm 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Thuận Tùng
- - Các Thẩm phán: bà Trần Thị Thúy Hà và bà Phan Thị Minh Tâm.
- - Thư ký phiên tòa: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 412/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 415A/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 429/2024/QĐPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1988, nơi cư trú: Số D, đường số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M: Ông Huỳnh Thảo L, sinh năm 1982. Theo Giấy uỷ quyền ngày 27/7/2024 (Có mặt)
- Nơi cư trú: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Đồng bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 2003 (Có mặt)
- Nơi đăng ký thường trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Nơi ở hiện tại: Số B, đường T, tổ B, H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm:
Theo Đơn khởi kiện và Đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung ngày 04/7/2024 của nguyên đơn - Bà Nguyễn Thị M; Bản tự khai, Đơn xin xét xử vắng mặt của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ông Huỳnh Thảo L thể hiện:
Bà Phạm Thị T và Nguyễn Thị Ngọc T1 có vay tiền của bà Nguyễn Thị M để làm ăn, việc nhận tiền gồm các lần như sau:
- - Vào ngày 08/12/2022, bà T và chị T1 hỏi vay bà M số tiền 500.000.000 đồng, bà T là người viết biên nhận vay tiền, bà T và chị T1 ký tên trong biên nhận vay tiền.
- - Vào sáng ngày 21/12/2022, bà T và chị T1 vay thêm 500.000.000 đồng, bà T là người viết biên nhận vay tiền, bà T và chị T1 ký tên trong biên nhận vay tiền.
- - Chiều cùng ngày 21/12/2022, bà T và chị T1 xuống nhờ bà M vay thêm 300.000.000 đồng, bà M đưa biên nhận cũ ngày 08/12/2022 cho bà T viết vào biên nhận vay thêm và ký tên xác nhận, bà T1 không có ký tên vào lần vay này.
- - Đến ngày 21/01/2023, bà T và chị T1 tiếp tục đến nhà bà M vay thêm 200.000.000 đồng, bà M đưa Giấy biên nhận nợ ngày 28/11/2022 âm lịch để bà T viết phía dưới xác nhận vay thêm 200.000.000 đồng, bà T và T1 cùng ký tên vào Biên nhận xác nhận vay thêm số tiền này.
Tổng cộng bà T và chị T1 vay tiền bà M là 1.500.000.000 đồng, mục đích vay là để kinh doanh, đáo hạn ngân hàng và chi tiêu trong gia đình. Chị T1 có ký tên xác nhận vay tiền cùng bà T là 1.200.000.000 đồng. Theo thoả thuận bà T và T1 có nghĩa vụ trả tiền lãi mỗi tháng nhưng bà T và T1 không đóng lãi. Sau đó bà T có trực tiếp trả cho bà M được 400.000.000 đồng, còn nợ lại 1.100.000.000 đồng, chưa đóng lãi. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu bà T và chị T1 trả số tiền vốn 1.100.000.000 đồng; yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 21/01/2023 đến ngày xét xử.
Bị đơn – Bà Phạm Thị T và Nguyễn Thị Ngọc T1: Vắng mặt trong suốt quá trình tòa án thụ lý và giải quyết vụ án nên không có lời khai.
- Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Căn cước công dân của nguyên đơn (Bản sao), xác nhận thông tin về cư trú của nguyên đơn; Biên nhận vay tiền ngày 08/12/2022 dương lịch (Bản photo đã đối chiếu bản chính); Biên nhận vay tiền ngày 28/11/2022 âm lịch (Bản photo đã đối chiếu bản chính); Giấy uỷ quyền của nguyên đơn ngày 27/07/2024; Đơn yêu cầu không tiến hành hoà giải, đối thoại ngày 10/8/2024 của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M
Buộc bà Phạm Thị T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 1.281.687.000 (Một tỷ, hai trăm tám mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn) đồng. Trong đó số tiền vốn còn nợ là 1.100.000.000 đồng và tiền lãi là 181.687.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2024/QĐ-BPKCTT ngày 12/08/2024 về việc “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ”, về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28 tháng 10 năm 2024 của bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét không buộc trách nhiệm liên đới cùng bà T trả nợ cho bà M.
Tại biên bản đối chất ngày 18/02/2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, bị đơn chị T1 không cung cấp căn cứ nào chứng minh bị ép buộc ký tên các biên nhận nhận tiền giữa nguyên đơn và bị đơn. Đại diện nguyên đơn ông Huỳnh Thảo L yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn Nguyễn Thị Ngọc T1 xác định không vay của bà M, thừa nhận có ký tên vào biên nhận nhằm giảm bớt căng thẳng giữa bà T với bà M. Chị T1 yêu cầu không chịu trách nhiệm liên đới cùng bà T trả nợ cho bà M.
Đại diện nguyên đơn xác định chị T1 thừa nhận ký tên vào biên nhận, chị T1 có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, do đó đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật;
- - Về nội dung: Chứng cứ có trong hồ sơ xác định bà T và chị T1 nợ bà M số tiền 1.500.000.000 đồng, đã trả được 400.000.000 đồng. Như vậy, có thể xác định bà T đã trả nợ chung của hai người cho bà M. Tiếp sau đó, biên nhận vay tiền ngày 21/12/2022 chỉ có mỗi mình bà T ký vay thêm số tiền 300.000.000 đồng, nên phần 300.000.000 đồng là bà T vay riêng, cần được tách ra, không buộc chị T1 có trách nhiệm liên đới cùng bà T trả cho bà M. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sửa bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà T trả cho bà M số tiền 349.551.000 đồng (trong đó, tiền vốn 300.000.000 đồng, tiền lãi là 49.551.000 đồng). Buộc bà T và chị T1 liên đới trả cho bà M số tiền 932.135.991 đồng (trong đó, tiền vốn 800.000.000 đồng, tiền lãi là 132.135.991 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Bị đơn, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 kháng cáo đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Tại phiên tòa phúc thẩm, đồng bị đơn bà Phạm Thị T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
Bị đơn cho rằng không vay tiền của nguyên đơn; thừa nhận chữ ký trên các biên nhận là của mình nhưng chỉ ký duy nhất 1 lần.
Chứng cứ trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp là Biên nhận vay tiền ngày 08/12/2022 dương lịch; Biên nhận vay tiền ngày 28/11/2022 âm lịch có chữ ký, chữ viết tên của bà Phạm Thị T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 xác nhận 03 khoản vay: 500.000.000 đồng ngày 08/12/2022 (dương lịch), 500.000.000 đồng ngày 21/12/2022 (dương lịch), khoản vay thêm 200.000.000 đồng ngày 21/01/2023 (dương lịch); chữ ký, chữ viết tên của bà Phạm Thị T xác nhận khoản vay thêm 300.000.000 đồng ngày 21/12/2022 (dương lịch). Án sơ thẩm xác định bà T cùng chị T1 có vay của bà M 03 lần số tiền là 1.200.000.000 đồng, bà T vay 1 lần số tiền 300.000.000 đồng, tổng số tiền vay 1.500.000.000 đồng, sau đó bà T đã trả 400.000.000 đồng nên số tiền bà T và chị T1 còn nợ lại bà M là 1.100.000.000 đồng.
Xét nội dung các biên nhận vay tiền được các bên xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện thỏa thuận, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên đã làm phát sinh, quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Theo thỏa thuận bà T và chị T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà M các khoản vay trên vào tháng 6 và tháng 8 năm 2023 nhưng T và T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ đối với người có quyền. Tại biên bản đối chất cũng như tranh tụng tại phiên tòa, chị T1 không nêu tình tiết nào chứng minh bị ép buộc ký tên các biên nhận vay tiền. Do đó, việc bà M yêu cầu bà T và chị T1 trả số tiền còn nợ là là có cơ sở. Án sơ thẩm căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu của bà M, buộc bà T và chị T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M số tiền còn nợ 1.100.000.000 đồng và lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là có căn cứ.
Tuy nhiên, biên nhận ngày 21/01/2023 (dương lịch), chữ ký và chữ viết tên của bà Phạm Thị T xác nhận khoản vay thêm 300.000.000 đồng ngày 21/12/2022 (dương lịch) do chỉ bà T ký nhận nên buộc bà T có trách nhiệm đối với số tiền vay nầy. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, cũng như chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không buộc chị Nguyễn Thị Ngọc T1 liên đới cùng bà Phạm Thị Thanh T2 cho bà Nguyễn Thị M khoản vay 300.000.000 đồng cùng với lãi suất.
[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Ngọc T1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Xử:
1.1. Buộc bà Phạm Thị T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 932.135.991 đồng. Trong đó số tiền vốn là 800.000.000 đồng và tiền lãi là 132.135.991 đồng.
1.2. Buộc bà Phạm Thị T có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 349.551.000 đồng. Trong đó số tiền vốn là 300.000.000 đồng và tiền lãi là 49.551.000 đồng.
Kể từ ngày có Đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2024/QĐ-BPKCTT ngày 12/08/2024 về việc “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” quy định tại Điều 128 của Bộ luật tố tụng dân sự đối với: Bà Phạm Thị T, sinh ngày 13/01/1982, số CMND: [...] cấp ngày 06/6/2020. Nơi đăng ký thường trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện tại: Số B, đường T, tổ B, H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 2003, số CCCD [...] cấp ngày 14/4/2021. Nơi đăng ký thường trú: Khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phạm Thị T và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 liên đới chịu 39.964.000đ (Ba mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi bốn ngàn) đồng. Buộc bà Phạm Thị Thanh C 17.477.000₫ (Mười bảy triệu, bốn trăm bảy mươi bảy ngàn) đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Ngọc T1 không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo Biên lai thu số 007844 ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. được khấu trừ vào án phí dân sự sơ thẩm phải nộp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thuận Tùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thuận Tùng |
Bản án số 49/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 49/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay
