TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 30 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: ông Múth So Ny và ông Châu Kim Ba.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Đặng Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/ TLST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; nơi sinh: T, An Giang; nơi thường trú: tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; dân tộc: Kinh; quốc tịch:Việt Nam; tôn giáo: Đạo Phật; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn H1 (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947; vợ: Trương Thị L, sinh năm 1980 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 1999; anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang – có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Lê Phú C – vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị M – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 17/9/2023, anh Nguyễn Văn P thuê anh Lê Phú C đến lắp đặt Camera quan sát tại nhà bà Nguyễn Thị M (là mẹ ruột) tại tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang. Khi anh C chuẩn bị lắp đặt Camera phía trước nhà thì Nguyễn Văn H (anh ruột của P không cho anh P lắp đặt Camera nên xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau, rồi anh P xông đến chỗ của H đang nằm trên võng ở gần đó. Tức giận H lấy khúc gỗ vuông dài 01m (khúc gỗ bà M dùng để chống đi) đánh 01 cái trúng vào vùng đầu bên trái của anh P làm khúc gỗ gãy thành 2 khúc, H tiếp tục dùng khúc gỗ còn lại đang cầm trên tay đánh thêm 01 cái nữa trúng vùng lưng của anh P gây thương tích, được bà M can ngăn. Anh P điện thoại trình báo Cơ quan Công an, sau đó tự đi xe đến Trung tâm Y tế thị xã T băng vết thương rồi đến Bệnh viện Đ tại Thành phố C đều trị đến ngày 22/9/2023 thì xuất viện.
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 84/24/KLTTCT-TTPY ngày 15/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Văn P, kết luận:
1.Các kết quả chính:
- Sẹo vùng đính sau bên, nằm xiên trái, kích thước (3.2 x 0.3)cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là: 02% (không hai phần trăm). Do vật tày gây nên.
- Sây sát da dạng thẳng vùng lưng phải để lại vết biến đổi sắc tố kích thước (06 x 0.1)cm, tỷ lệ 01% (không một phần trăm). Do vật tày gây nên.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phầm trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Văn P, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 03% (ba phầm trăm).
Vật chứng thu giữ trong vụ án: Cơ quan cảnh sát Điều tra – Công an thị xã T thu giữ: 01 (một) khúc gỗ vuông, tổng chiều dài 01m, chiều rộng mặt trước 2,5 cm, chiều rộng mặt sau 2,5 cm, chiều ngang 1,5 cm. Bị gãy làm 02 khúc, khúc gỗ dài 70 cm, khúc gỗ ngắn 30 cm.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTB-HS ngày 01/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận thương tích của anh Nguyễn Văn P là do chính bị cáo gây nên. Đồng ý bồi thường thiệt hại
theo yêu cầu của bị hại với số tiền là 11.860.000 đồng (mười một triệu, tám trăm sáu mươi ngàn đồng)
Bị hại anh Nguyễn Văn P cho biết: Anh có thuê C lắp đặt Camera tại nhà bà M (là mẹ ruột) nhưng bị cáo H không cho còn có lời lẽ hăm dọa, nên xảy ra cự cãi, đồng thời anh kêu anh C tiếp tục lắp đặt. Lúc này bị cáo đang nằm võng cách chỗ anh khoảng 4 mét đứng lên lấy khúc dài khoảng 1,2 mét cầm trên tay phải đánh một cái trúng vào vùng đầu bên trái của P làm khúc gỗ gãy làm hai khúc, H tiếp tục cầm khúc gỗ bị gãy còn lại đánh thêm một cái trúng vào lưng thì anh bỏ đi vào nhà, sau đó anh đi đến Trung tâm Y tế thị xã T để băng bó vết thương rồi đến Bệnh viện Đ điều trị. Anh yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị tổng cộng là 11.800.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65, của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng về tội “ Cố ý gây thương tích”.
Trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng các 584.585, 586, 587 và 590 của Bộ luật dân sự ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 11.860 đồng.
Vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khúc gỗ vuông, tổng chiều dài 01m, chiều rộng mặt trước 2,5 cm, chiều rộng mặt sau 2,5 cm, chiều ngang 1,5 cm. Bị gãy làm 02 khúc, khúc gỗ dài 70 cm, khúc gỗ ngắn 30 cm.
- Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng, bị cáo không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt mặc dù Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục địch, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ, ngày 17/9/2023, tại nhà bà Nguyễn Thị M thuộc tổ A, khóm P,phường A, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng khúc gỗ vuông dài 01mét, chiều rộng mặt trước 2,5 cm, chiều rộng mặt sau 2,5 cm, chiều ngang 1,5 cm, cầm bằng tay phải đánh một cái trúng đầu bên trái của anh P làm khúc gỗ gãy làm hai khúc, H tiếp tục cầm khúc gỗ bị gãy còn lại đánh thêm một cái trúng vào lưng của anh P gây thương tích với tỷ lệ là 03% (ba phần trăm).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi thực hiện là sẽ gây tổn hại cho sức khỏe và thương tích cho người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.Tuy tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh P là 03%, nhưng bị cáo sử dụng khúc gỗ vuông dài 01mét, chiều rộng mặt trước 2,5 cm, chiều rộng mặt sau 2,5 cm, chiều ngang 1,5 cm để gây thương tích, đây được xem là hung khí nguy hiểm. Do đó, hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội là “ Dùng hung khí nguy hiểm”, có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3]. Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét tính chất vụ án thì thấy: sức khỏe của con người là vốn quý và bất khả xâm phạm. Chính vì vậy quyền được an toàn về sức khỏe được pháp luật ghi nhận
và bảo vệ, do đó mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật thì sẽ bị pháp luật áp dụng chế tài nghiêm khắc. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây sự bất bình và hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Lẽ ra phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù cách ly ra khởi đồi sống xã hội một thời gian, tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định, phạm tội lần đầu, đồng thời nhận thấy, từ khi sự việc xảy ra đến nay và trong thời gian được tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác. Đối chiếu với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018, thấy không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Các biện pháp tư pháp:
[4.1] Trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Nguyễn Văn P yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị với số tiền là 11.860.000 đồng (mười một triệu, tám trăm sáu mươi ngàn).
Xét thấy: thương tích của anh Nguyễn Văn P là do bị cáo trực tiếp gây ra dẫn đến phải điều trị tại cơ sở Y tế, nên việc anh P yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe là hoàn toàn có căn cứ và đúng theo quy định tại Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn P yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị với số tiền 11.860.000 đồng (mười một triệu, tám trăm sáu mươi ngàn đồng); bị cáo H đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận và phù hợp pháp luật nên được ghi nhận.
[4.2]. Xử lý vật chứng: vật chứng thu giữ là khúc cây gỗ vuông, nhưng không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu và tiêu hủy.
[6] Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội : “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm, 06 (sáu )tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 30/7/2024)
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 46, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584,585,586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015: ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại về việc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Văn P số tiền 11.860.000 đồng (mười một triệu, tám trăm sáu mươi ngàn đồng).
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khúc gỗ vuông, tổng chiều dài 01m, chiều rộng mặt trước 2,5 cm, chiều rộng mặt sau 2,5 cm, chiều ngang 1,5 cm. Bị gãy làm 02 khúc, khúc gỗ dài 70 cm, khúc gỗ ngắn 30 cm.
Các vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024.
Căn cứ Điều 136, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm và 593.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; cộng chung: 793.000 đồng (bảy trăm chín mươi ba ngàn).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo bản án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếu gây thương tích cho Nguyên
