|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HSST Ngày: 27/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Khanh
Ông Nguyễn Viết Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Linh– Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Hà Quang Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 16/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Đậu Thành C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2003, tại Thanh Hóa; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Đậu Xuân B; Con bà: Phan Thị D; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 24/3/2022, bị Toà án nhân dân huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2022. Chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 29/6/2024 tạm giam đến nay. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S. “Có mặt tại phiên tòa”.
Người bị hại: Chị Trần Thị Tuyết S - SN 1973; “Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP P, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị D1 – SN 1986; “Có mặt”
Địa chỉ: Số 48 Nguyễn Trãi, phường Ba Đình, TP Thanh Hóa, Thanh Hóa
- Chị Phạm Thị L – SN 1996; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Số C T, phường B, TP T, Thanh Hóa. (Cửa hàng Đ)
- Anh Lê Tuấn A – SN 1998; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Số 12/55 đường Lê Hồng Phong, phường Ba Đình, TP Thanh Hóa, Thanh Hóa
- Chị Trịnh Hà L1 – SN: 2003; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa
Người làm chứng:
- Anh Trần Văn L2 – SN: 1999; “Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP Hải Thành, phường Bắc Sơn, TP Sầm Sơn, Thanh Hóa
- Chị Nguyễn Thị H – SN 1995; “Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP H, phường B, TP S, Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 15/6/2024, Đậu Thành C đi vào thành phố S để tìm gặp người yêu là chị Lang Thị S1 đang làm nhân viên tại quán C2 thuộc phường B, thành phố S. Do không có việc làm và thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên C nảy sinh ý định cướp giật tài sản.
Khoảng 21h30 ngày 20/6/2024, Đậu Thành C mặc quần áo phông màu đen, đi dép lê màu đen, đeo khẩu trang trắng đi bộ qua các tuyến đường trên thành phố S tìm nhà dân sơ hở để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Khi thấy cửa hàng K1 ở số D đường N, phường B, thành phố S, C đi bộ vào cửa hàng thì gặp chị Trần Thị Tuyết S là chủ cửa hàng và anh Trần Văn L2 là nhân viên sửa chữa điện thoại cửa hàng. C hỏi mua điện thoại Iphone 14 Pro max thì chị S lấy từ trong tủ cửa hàng ra đưa cho C chiếc điện thoại Iphone 14 Pro max màu vàng, đã qua sử dụng. Sau đó, chị S đi vào phía bên trong quầy đứng còn C thì ngồi phía bên ngoài quầy tiếp tục xem điện thoại và hỏi về thông tin liên quan. Lúc này, tại quán có thêm chị Nguyễn Thị H và chị Ngô Thị T đến cửa hàng để chuyển tiền qua dịch vụ E. C quan sát mọi người không ai để ý rồi cầm chiếc Iphone 14 promax bỏ chạy ra cửa hướng phía đường T về phía Chợ đêm S để tẩu thoát. Khi chạy ra khỏi cửa hàng, C để lại 01 đôi dép lê màu đen tại chỗ ngồi trong quán. Sau đó, C bắt xe taxi đi lên thành phố T, thuê nhà nghỉ để ngủ qua đêm. Đến khoảng 11h30 ngày 21/6/2024, Đậu Thành C bắt xe ôm đi tìm cửa hàng để bán điện thoại, khi đến đường N thuộc phường B, thành phố T, C vào bán chiếc Iphone 14 promax tại cửa hàng điện thoại TRÁNG DIN ở số D, đường N, phường B, thành phố T do chị Lê Thị D1 là chủ cửa hàng với giá 20.000.000 đồng. Số tiền có được C sử dụng chi tiêu cá nhân hết rồi trở về nhà tại thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
Sau khi bị đối tượng cướp giật chiếc điện thoại Iphone 14 promax màu vàng, chị Trần Thị Tuyết S đã đến Công an thành phố S trình báo. Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã tiến hành điều tra xác minh và xác định Đậu Thành C, sinh năm 2003 trú tại thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh là người đã gây ra vụ việc và tiến hành bắt giữ khẩn cấp đối tượng.
Về chiếc điện thoại Iphone 14 promax màu vàng, vào chiều ngày 21/6/2024, chị Lê Thị D1 bán chiếc điện thoại này cho anh Lê Tuấn A với giá 20.800.000 đồng. Cùng ngày, anh Tuấn A đem bán lại cho chị Phạm Thị L là chủ cửa hàng Đ ở số C T, phường B, thành phố T với giá 22.300.000 đồng. Đến chiều ngày 22/6/2024, chị Phạm Thị L bán lại chiếc điện thoại trên cho chị Trịnh Hà L1 với giá 22.900.000 đồng. Ngày 28/6/2024, chị Trịnh Hà L1 đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố S.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố S kết luận: 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu Gold, dung lượng 128GB, số IMEI: 358034168729637; Model: MQ9R3 VN/A; số serial: L7XR09MVP7 có giá trị tại thời điểm ngày 20/6/2024 là 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng).
Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã thu giữ 02 đoạn video tại cửa hàng K1 do chị Trần Thị Tuyết S giao nộp thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 22h09' đến 22h20' ngày 20/6/2024, Đậu Thành C mặc quần áo phông màu đen, đeo khẩu trang trắng đến cửa hàng Khả Sơn M và thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại Iphone 14 promax. Tại Bản kết luận giám định số 2629/KL-KTHS ngày 17/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong các tệp video gửi giám định .
Vật chứng của vụ án: 01 đôi dép lê màu đen của Đậu Thành C, hiện đang quản lý theo hồ sơ vụ án. Còn chiếc điện thoại Iphone 14 promax màu vàng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Tuyết S
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra chị Trần Thị Tuyết S đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax và cũng không yêu cầu bồi thường thêm gì mặt dân sự.
Chị Lê Thị D1, Trịnh Hà L1, Phạm Thị L và anh Lê Tuấn A tự nguyện thỏa thuận dân sự với nhau về khắc phục cho nhau về số tiền đã mua điện thoại và chị Trịnh Hà L1, chị Phạm Thị L, anh Lê Tuấn A cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì về mặt dân sự.
Chị Lê Thị D1 là người mua 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax với giá 20.000.000 đồng của bị cáo. Chị D1 yêu cầu bị cáo phải hoàn trả đối với số tiền đã mua điện thoại cho chị.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo đã tác động với gia đình tự nguyện bồi thường số tiền 15.000.000đ để khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra. Số tiền bồi thường này đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tại phiên tòa bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường số tiền còn lại cho chị D1 là 5.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 52/CTr-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Đậu Thành C về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả định giá.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị D1 đã công nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 20.000.000₫ đã mua điện thoại của bị cáo, Chị D1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì về mặt dân sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1Điều 171; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Đậu Thành C từ 24 đến 30 tháng tù; Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy đôi dép lê màu đen không còn giá trị sử dụng;Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chị Trần Thị Tuyết S, chị Phạm Thị L, anh Lê Tuấn A, chị Trịnh Hà L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đều vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/6/2024 tại cửa hàng K1, địa chỉ số D đường N, phường B, TP S, tỉnh Thanh Hóa. Đậu Thành C đã lợi dụng sơ hở nhanh chóng giật công khai chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu vàng của chị Trần Thị Tuyết S rồi nhanh chóng tẩu thoát. Giá trị chiếc điện thoại bị cáo đã chiếm đoạt là 21.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Đậu Thành C có đủ dấu hiện cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 của BLHS như đề nghị của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và có khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội. Nhưng chỉ muốn hưởng lợi không bằng sức lao động của bản thân, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi Cướp giật tài sản, thể hiện bị cáo là người rất liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo C đã bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2022. Chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới. Nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Mặc dù bị cáo đã bị kết án nhưng vẫn không chịu cải sửa mà còn phạm tội, chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tự nguyện khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hai. Nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[5] Về phần bồi thường dân sự:
Bị cáo Đậu Thành C đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho chị Lê Thị D1 và chị Lê Thị D1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì về mặt dân sự. Bị hại chị Trần Thị Tuyết S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị L, anh Lê Tuấn A, chị Trịnh Hà L1 không yêu cầu bồi thường dân sự. Vì vậy, công nhận sự tự nguyện của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự.
[6] Về vật chứng: Đối với một đôi dép lê màu đen đã qua sử dụng và cũ của bị cáo liên quan tới việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào Điều 47 BLHS; khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung : Bị cáo C không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 171; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 46, điều 47 BLHS ;khoản 1,2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đậu Thành C phạm tội “Cướp giật tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Đậu Thành C 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 26/6/2024.
Không xử phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đậu Thành C.
Về Trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) cho chị Lê Thị D1 và chị Lê Thị D1 được nhận số tiền 15.000.000 đồng do bị cáo Đậu Thành C đã nộp theo Biên lai Thu tiền số 0002171 ngày 18/9/2024 tại Chi cục thi hành án thành phố Sầm Sơn.
Công nhận sự tự nguyện của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo Đậu Thành C bồi thường về dân sự.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép lê màu đen đã qua sử dụng và cũ. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng số 53/BBVC-CCTHA ngày 06/9/2024.
Về án phí: Bị cáo Đậu Thành C phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Quyền kháng cáo: Bị cáo Đậu Thành C, chị Lê Thị D1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị Tuyết S, anh Lê Tuấn A, chị Phạm Thị L, chị Trịnh Hà L1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án./.
|
VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa; VKSND TP. Sầm Sơn; Công an T; Thi hành án HS, D2; - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
- Lưu hồ sơ vụ án |
Hà Thị L3 |
Bản án số 49/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về cướp giật tài sản
- Số bản án: 49/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Đậu Thành C 12 tháng tù
