|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HSST Ngày 20-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thạch
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Cẩm Vân
2. Ông Lê Hữu Luân
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thanh P; sinh ngày 29 tháng 12 năm 1996; Số thẻ căn cước công dân: [...]; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Quê quán: thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Thợ điện nước; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Bùi T, sinh năm 1968 và con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; A, chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 29-5-2024 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm: 1991; nghề nghiệp: Nhân viên Hạt quản lý đường bộ K; nơi cư trú: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Võ Xuân H, sinh năm: 1991; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Phan N, sinh năm: 1978; nghề nghiệp: Giáo viên; nơi cư trú: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ, ngày 06/5/2024, Bùi Thanh P đi bộ sang nhà anh Hoàng Văn T1 (ở sát nhà Bùi Thanh P), ở thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì thấy anh T1 cùng với một số người đang uống rượu, nên Bùi Thanh P đi về nhà. Do trước đó biết anh Hoàng Văn T1 mới mua một chiếc điện thoại di động và thấy anh T1 đã uống rượu, nên Bùi Thanh P chờ đến đêm khuya, khi anh T1 ngủ say sẽ sang lấy trộm điện thoại. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 07/5/2024, Bùi Thanh P đi ra trước cổng nhà mình nhìn sang thì thấy cửa nhà anh T1 không đóng, đèn điện trong nhà vẫn bật sáng. Sau khi quan sát thấy vắng người, Bùi Thanh P đi vào trong nhà anh T1 thì thấy anh T1 đang nằm ngủ trên giường, quay mặt vào trong; trên đầu giường nơi anh T1 nằm ngủ có một chiếc điện thoại di động đang cắm sạc pin. Bùi Thanh P rút dây sạc ra khỏi điện thoại và lấy chiếc điện thoại của anh Hoàng Văn T1 rồi đi về nhà của mình. Khi về nhà, Bùi Thanh P tháo chiếc sim điện thoại vứt vào bồn cầu nhà vệ sinh, tắt nguồn điện thoại và cất dấu điện thoại trong tủ quần áo ở trong phòng ngủ để hôm sau đưa đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Vào buổi trưa ngày 07/5/2024, Công an xã K, thị xã K rà soát các đối tượng nghi vấn và triệu tập Bùi Thanh P lên làm việc, thì Bùi Thanh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc điện thoại đã chiếm đoạt của anh Hoàng Văn T1.
Chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A58, vỏ màu xanh ngọc, model CPH2577, số IMEL 864818062187158/864818062187141, Ram 8G, bộ nhớ trong 128G, màn hình 6,72inch mà Bùi Thanh P chiếm đoạt là của anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã K thì chiếc điện thoại của anh Hoàng Văn T1 bị Bùi Thanh P trộm chiếm đoạt trị giá 4.193.000 đồng.
Với hành vi trên, bản cáo trạng số 49/CT-VKS-TXKA ngày 09-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Bùi Thanh P, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa;
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, 38, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Thanh P mức án từ 06 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Về hình phạt bổ sung: bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thanh P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 07/5/2024, lợi dụng anh Hoàng Văn T1 đang nằm ngủ, cửa nhà không đóng, đèn điện trong nhà vẫn bật sáng, Bùi Thanh P đã đi vào trong nhà anh Hoàng Văn T1, ở thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh chiếm đoạt một chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A58, trị giá 4.193.000 đồng của anh Hoàng Văn T1 đang cắm sạc pin để trên đầu giường, nơi anh T1 đang nằm ngủ đưa về nhà cất dấu để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Với hành vi lợi dụng sự sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động trị giá 4.193.000 đồng của anh Hoàng Văn T1, bị cáo Bùi Thanh P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng số 49/CT-VKS-TXKA ngày 09-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố, đề nghị xét xử bị cáo về tội danh, điều luật quy định như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội, tuy nhiên cũng phải xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Bùi Thanh P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Bùi Thanh P được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình đều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả xẩy ra cho bị hại; có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bản thân chưa có tiền án, tiền sự; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó có đủ căn cứ và điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định pháp luật nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đủ nghiêm.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại chiếc điện thoại bị mất, anh Hoàng Văn T1 yêu cầu Bùi Thanh P bồi thường số tiền 1.000.000 đồng tiền làm lại chiếc sim điện thoại và chi phí đi lại tìm kiếm. Bùi Thanh P đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại Hoàng Văn T1, nay anh T1 không có yêu cầu gì thêm về yêu cầu dân sự nên miễn xét.
Về vật chứng:
- Xét vật chứng là 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A58, vỏ màu xanh ngọc, model CPH2577, số IMEL 864818062187158/864818062187141, Ram 8G, bộ nhớ trong 128G, màn hình 6,72inch thu giữ của bị cáo Bùi Thanh P. Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã trả lại cho bị hại anh Hoàng Văn T1 là đúng trình tự thủ tục tố tụng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thanh P 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thanh P cho Ủy ban nhân dân xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp, bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Thanh P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thạch |
Bản án số 49/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 49/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 49
