Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG SƠN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST

Ngày: 19/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.
  • + Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và ông Võ Sỹ Huyền.
  • + Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam.
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Cao Anh Bắc - Kiểm sát viên.

Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Viết K; sinh ngày 19 tháng 4 năm 1987; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ: Phạm Thị T; con 03 đứa, lớn nhất sinh năm: 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 01/02/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lê Khánh C; sinh ngày 08 tháng 8 năm 1982; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân L và bà Nguyễn Thị H (Đều đã chết); vợ: Trần Thị X; con: 03 đứa (Lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2022); anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ năm; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 01/02/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; sinh ngày 02 tháng 01 năm 1986; tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị A; vợ: Nguyễn Thị A; con: 02 đứa (Lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021); anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 01/02/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị K1, sinh năm: 1969. Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1955. Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Anh Hồ Đức T2, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  4. Anh Trần Thanh H1, sinh năm: 1988. Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  5. Anh Lê Duy K2, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  6. Anh Trần Phi L1, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  7. Chị Nguyễn Thị A, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  8. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1984. Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  9. Anh Nguyễn Công V, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  10. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm: 1970. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  11. AnhNguyễn Hữu Hùng, sinh năm: 1975. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  12. Anh Phạm Xuân V1, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  13. Anh Nguyễn Ngọc C2, sinh năm: 1976. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  14. Anh Bùi Quang V2, sinh năm: 1988. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  15. Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  16. Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm: 1997. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.
  17. Chị Trần Thị X, sinh năm: 1991. Nơi cư trú: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt tại phiên tòa.
  18. Công ty TNHH T8 – nhập khẩu và vận tải hàng hóa Lào - Việt.
    • Địa chỉ: Bản Đ, huyện X, thủ đô V, nước Công hòa dân chủ nhân dân Lào.
    • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Chin Vông Đ1; chức vụ giám đốc.
    • - Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Văn H2, sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Bà Ngô Thị Minh T4; sinh năm: 1971. Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mối quan hệ quen biết với nhau nên vào khoảng đầu tháng 10/2023, Nguyễn Viết K gặp Lê Khánh C rồi C bảo với K có pháo thì bán lại cho C. K đồng ý rồi hai bên thống nhất 01 hộp pháo hoa, loại 36 quả với giá 400.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ ngày 21/10/2023 đến cuối tháng 11/2023, Nguyễn Viết K đã nhiều lần mua pháo từ nước Lào rồi vận chuyển về Việt Nam bán lại kiếm lời, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào ngày 21/10/2023 Nguyễn Viết K điều khiển xe Container đầu kéo BKS-UN1986, kéo theo romooc BKSUN-1987 (xe Khoa thuê của Công ty TNHH T9 Lào - Việt) để chở nước tăng lực Redbull (nước bò húc) từ nước Lào về Việt Nam cho công ty T10, địa chỉ xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Khi về đến khu vực ngã ba T, thuộc tỉnh Bolykhamxay, nước CHDCND Lào thì gặp người đàn ông người Lào, không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu, K hỏi mua 20 hộp pháo loại 36 quả, người đàn ông đó đồng ý rồi lấy 20 hộp pháo bán với giá 3.400.000 đồng tiền kíp Lào, tương đương với 5.000.000 đồng nhằm mục đích đưa về Việt Nam bán lại kiếm lời. Sau khi trả tiền xong K đưa pháo bỏ dưới thùng đựng dụng cụ xe Container đầu kéo rồi điều khiển chạy về khu vực cổng B, thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, gọi điện cho Nguyễn Văn Q người cùng thôn là công nhân bốc vác thuê đến bốc hàng trên xe xuống bãi tập kết cho K, đồng thời nhờ Q đóng 20 hộp pháo vào thùng cát tông với giá 300.000 đồng (K đã thanh toán tiền) cất dấu cho K, (Q cất dấu pháo cho K nhưng không biết mục đích K làm gì). Còn K gọi điện cho Lê Khánh C nói: “Sang lấy pháo”, C đồng ý rồi điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu xám, không có BKS (xe của anh trai Lê Hải  hiện đã chết cho C) đến địa điểm đã hẹn lấy 20 hộp pháo hoa, loại 36 quả với giá 400.000 đồng/01 hộp rồi đưa về nhà cất dấu nhằm mục đích bán lại để kiếm lời, ngày hôm sau C trả cho K số tiền 8.000.000 đồng, K tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Vào khoảng thời gian giữa tháng 11/2023 Nguyễn Viết K điều khiển xe Container đầu kéo BKS-UN1986, kéo theo romooc BKSUN-1987 sang Lào để bốc hàng chở về Việt Nam. Khi về đến khu vực ngã ba T, thuộc tỉnh Bolykhămxay, nước CHDCND Lào thì gặp người đàn ông người Lào, không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu, K hỏi mua 06 hộp pháo loại 49 quả có khối lượng 10,2 kg và 02 hộp pháo loại 88 quả, có khối lượng 06 kg, tổng cộng 16,2kg với giá 2.500.000 đồng tiền kíp Lào, tương đương với 3.500.000 đồng tiền Việt Nam nhằm mục đích đưa về Việt Nam bán kiếm lời. Sau khi trả tiền xong K đưa pháo bỏ dưới thùng đựng dụng cụ xe Container đầu kéo rồi điều khiển chạy về khu vực cổng B, thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện H, gọi điện cho Nguyễn Văn Q là người cùng thôn đến bốc hàng từ trên xe xuống bãi tập kết, rồi bảo Q lấy pháo đưa về nhà cất dấu cho K (Q cất dấu pháo cho K nhưng không biết mục đích K làm gì), Q lấy pháo bỏ vào túi nilong điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave mà đỏ, đen bạc, BKS 38H1-050.74 của mình chở pháo về nhà cất dấu trong nhà không cho ai biết (K đã thanh toán tiền cho Q).

- Lần thứ ba: Vào ngày 22/11/2023 Nguyễn Viết K điều khiển xe Container đầu kéo BKS-UN1986, kéo theo romooc BKSUN-1987 (xe Khoa thuê lại của Công ty TNHH T9 Lào - V) sang Lào để bốc hàng vận chuyển về Việt Nam. Khi về đến khu vực ngã ba T, thuộc tỉnh Bolykhămxay, nước CHDCND Lào thì gặp người đàn ông người Lào, không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu, K hỏi mua 20 hộp pháo loại 36 quả, người đàn ông đó đồng ý rồi lấy 20 hộp pháo bán với giá 3.400.000 đồng tiền kíp Lào, tương đương với 5.000.000 đồng nhằm mục đích đưa về Việt Nam để bán lại kiếm lời. Sau khi trả tiền xong tiền K đưa pháo bỏ dưới thùng đựng dụng cụ xe Container đầu kéo rồi điều khiển chạy về khu vực cổng B, thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện H, gọi điện cho Nguyễn Văn Q người cùng thôn là công nhân bốc vác thuê đến bốc hàng từ trên xe xuống bãi tập kết cho K, đồng thời nhờ Q đóng 20 hộp pháo vào thùng cát tông với giá 300.000 đồng tiền công (K đã thanh toán tiền cho Q) cất dấu cho K, (Q cất dấu pháo cho K nhưng không biết mục đích K làm gì). Còn K gọi điện thoại Lê Khánh C nói: “Pháo đã về”, C điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu xám, không có BKS (xe của anh trai Lê Hải  hiện đã chết cho C) đến địa điểm đã hẹn lấy 20 hộp pháo hoa, loại 36 quả với giá 450.000 đồng/01 hộp rồi đưa về nhà cất dấu nhằm mục đích bán lại để kiếm lời, ngày hôm sau C trả cho K số tiền 8.000.000 đồng, còn nợ 1.000.000 đồng chưa trả. Số tiền K tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ tư: Vào khoảng thời gian gần cuối tháng 11/2023 Nguyễn Viết K điều khiển xe Container đầu kéo BKS-UN1986, kéo theo romooc BKSUN-1987 sang Lào để bốc hàng chở về Việt Nam. Khi về đến khu vực ngã ba T, thuộc tỉnh Bolykhămxay, nước CHDCND Lào thì gặp người đàn ông người Lào, không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu, K hỏi mua 02 hộp pháo loại 09 quả có khối lượng 3,72 kg và 12 quả pháo dừa có khối lượng 10,8kg, tổng cộng: 14,52 kg với giá 3.500.000 đồng tiền kíp Lào, tương đương với 5.000.000 đồng tiền Việt Nam nhằm mục đích đưa về Việt Nam bán lại kiếm lời. Sau khi trả tiền xong K đưa pháo bỏ dưới thùng đựng dụng cụ xe Container đầu kéo rồi điều khiển chạy về khu vực cổng B, thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện H, gọi điện cho Nguyễn Văn Q là người cùng thôn đến bốc hàng từ trên xe xuống bãi tập kết, đồng thời bảo Q lấy pháo đưa về nhà cất dấu cho K, (Q cất dấu pháo cho K nhưng không biết mục đích K làm gì), Q lấy pháo bỏ vào túi ni long điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave mà đỏ, đen bạc, BKS 38H1-050.74 của mình chở pháo về nhà cất dấu không cho ai biết (K đã thanh toán tiền cho Q).

Lần thứ năm: Vào cuối tháng 11/2023 Nguyễn Viết K điều khiển xe Container đầu kéo BKS-UN1986, kéo theo romooc BKSUN-1987 sang Lào để bốc hàng chở về Việt Nam. Khi về đến khu vực ngã ba T, thuộc tỉnh Bolykhămxay, nước CHDCND Lào thì gặp người đàn ông người Lào, không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu, K hỏi mua 03 hộp pháo loại 09 quả có khối lượng 5,58 kg và 04 hộp pháo loại 88 quả có khối lượng 12 kg, tổng cộng 17,58 kg với giá 2.700.000 đồng tiền kíp Lào, tương đương với 4.000.000 đồng tiền Việt Nam nhằm mục đích đưa về Việt Nam bán lại kiếm lời. Sau khi trả tiền xong K đưa pháo bỏ dưới thùng đựng dụng cụ xe Container đầu kéo rồi điều khiển chạy về khu vực cổng B, thuộc địa phận thôn C, xã S, huyện H, gọi điện cho Nguyễn Văn Q là người cùng thôn đến bốc hàng từ trên xe xuống bãi tập kết, đồng thời bảo Q đưa pháo về nhà cất dấu cho K cất dấu cho K, (Q cất dấu pháo cho K nhưng không biết mục đích K làm gì), Q lấy pháo bỏ vào túi nilong điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave mà đỏ, đen bạc, BKS 38H1-050.74 của mình chở pháo về nhà cất dấu không cho ai biết. Khoảng 05 ngày sau K gọi điện cho Q nói: “Đợt này làm căng rồi, mày đưa pháo đi cất cẩn thận”, Q đồng ý rồi lấy 02 hộp pháo loại 88 quả cất dấu phía sau nhà tắm của gia đình không cho ai biết, số còn lại Q đóng vào thùng cát tông rồi đưa sang gửi tại nhà bà Nguyễn Thị C1 là hàng xóm với Q (bà C1 không biết bên trong có pháo), (K đã thanh toán tiền cho Q).

Đến ngày 23/01/2024 sau khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Nguyễn Văn Q đến Cơ quan điều tra Công an huyện H đầu thú và giao nộp 02 hộp pháo loại 88 quả có khối lượng 12kg. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà bà Nguyễn Thị C1 thu giữ 36,3 kg pháo. Tổng khối lượng pháo thu giữ là 48,3 kg.

+ Đối với Lê Khánh C sau khi mua được từ Nguyễn Viết K tổng số 40 hộp pháo loại 36 quả, C đã sử dụng hết 22 hộp, còn lại 18 hộp có khối lượng 22,56 kg C đã bán lại và cho một số đối tượng, thu lợi số tiền 9.000.000 đồng, cụ thể:

  • Vào khoảng thời gian giữa tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Văn T3, trú tại thôn B, xã S, huyện H 04 hộp pháo loại 36 quả, có khối lượng 5,2 với giá 2.200.000 đồng, số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian giữa tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Hữu H3, trú tại thôn A, xã S, huyện H 02 hộp, loại 36 quả có khối lượng 2,48 kg với giá 1.100.000 đồng, số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Tiến D, trú tại thôn A, xã S, huyện H 01 hộp pháo loại 36 quả, có khối lượng 1,28 kg với giá 550.000 đồng, số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Tiến Đ, trú tại thôn A, xã S, huyện H 02 hộp pháo loại 36 quả, có khối lượng 2,5 kg với giá 1.000.000 đồng, số tiền Đ chưa thanh toán cho C. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Văn L2, trú tại thôn A, xã S, huyện H 03 hộp pháo loại 36 quả, có khối lượng 3,7 kg với giá 1.950.000 đồng, số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Công V, trú tại thôn N, xã S, huyện H 02 hộp pháo loại 36 quả, có khối lượng 2,24 kg với giá 1.100.000 đồng, số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Bùi Quang V2, trú tại thôn N, xã S, huyện H 02 hộp pháo loại 36 quả, có khối lượng 2,5 kg với giá 1.100.000 đồng, số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.
  • Vào khoảng thời gian cuối tháng 10/2023, Lê Khánh C bán cho Nguyễn Ngọc C2Phạm Xuân V1, đều trú tại xã S, huyện H mỗi người 01 hộp pháo loại 36 quả, có tổng khối lượng 2,66 kg. Cơ quan điều tra đã thu giữ số pháo nói trên.

Đến ngày 24/01/2024 sau khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Lê Khánh C đến Cơ quan điều tra Công an huyện H đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

* Tổng khối lượng pháo Nguyễn Viết K mua từ Lào đưa về Việt Nam nhằm mục đích bán kiếm lời mà là 70,86 kg. Sau đó K nhờ Nguyễn Văn Q lấy 22,56 kg pháo cất dấu phía sau xe Container, số còn lại 48,3 kg Khoa nhờ Q đưa về nhà Q cất dấu, tổng cộng số pháo Q cất dấu là 70,86 kg. Còn Nguyễn Viết K sau đó đã bán lại cho Lê Khánh C 22,56 kg, thu lợi số tiền 16.000.000 đồng.

* Ngoài ra vào ngày 25/10/2023, Nguyễn Viết K bán cho Lê Duy K2, trú tại thôn T, xã S 20 hộp pháo, loại 36 quả với giá 9.000.000 đồng, sau khi biết K bị bắt ngày 24/01/2024 K2 đã tiêu hủy toàn bộ số pháo trên. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

- Ngày 02/11/2023, Nguyễn Viết K bán cho Hồ Đức T2, trú tại thôn K, xã S, huyện H 20 hộp pháo, loại 36 quả với giá 8.000.000 đồng. Sau khi biết K bị bắt T2 đã tiêu hủy toàn bộ số pháo trên. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

- Ngày 13/11/2023, Nguyễn Viết K bán cho Trần Thanh H1, trú tại thôn C, xã S, huyện H 10 hộp pháo, loại 36 quả với giá 4.000.000 đồng. Sau khi biết K bị bắt H1 đã tiêu hủy toàn bộ số pháo trên, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả. Còn lại 10 hộp pháo Khoa cho Trần Phi L1 05 hộp, L1 đã sử dụng hết. Số còn lại K sử dụng hết.

Tại bản Kết luận giám định số 322/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của phòng K3 Công an tỉnh H kết luận:

  • 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 28x20x11 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 88 vật hình trụ liên kết với nhau (ký hiệu M1) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 06 kg.
  • 05 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 25x13,5x13,5 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 09 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu M2) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 9,3 kg.
  • 06 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 17,5x17,5x10 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 49 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu M3) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 10,2 kg.
  • 04 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 28x20x11 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 88 vật hình trụ liên kết với nhau (ký hiệu M4) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 12 kg.
  • 12 (mười hai) vật hình cầu tương tự nhau, màu xám vàng, có phần đế, đường kính 12 cm, cao 17 cm, mỗi vật có liên kết phần dây dẫn dài 01 mét (ký hiệu M5) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 10,8 kg.
  • 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 15x15x12,5 cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C1) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 1,4 kg.
  • 04 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 14,5x14,5x10 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C2) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 5,2 kg.
  • 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 14,5x14,5x10 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C3) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 1,28 kg.
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 14,5x14,5x10 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C4) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 2,5 kg.
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 14,5x14,5x10 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C5) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 2,48 kg.
  • 01 khối hộp hình chữ nhật, kích thước 14,5x14,5x10cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C6) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 1,26 kg.
  • 03 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 14,5x14,5x12 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C7) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 3,7 kg.
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 14,5x14,5x12 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C8) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 2,24 kg.
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước 14,5x14,5x10 cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau (ký hiệu C9) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 2,5 kg.

Tại bản Kết luận định giá số 14/KLĐG-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện H kết luận:

  • 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 38H1 – 050.74, số khung RLHHC1201BY437068, số máy HC12E3237178, xe đã qua sử dụng có giá trị là 4.000.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ để chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện H gồm:

  • 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (28x20x11) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 88 vật hình trụ liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (34x23x30) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,12 kg, còn lại 5,88 kg);
  • 05 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (25x13,5x13,5) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 09 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (26x28x47) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,4 kg, còn lại 8,9 kg);
  • 06 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (17,5x17,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 49 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (25x30x52) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,04 kg, còn lại 10,16 kg);
  • 04 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (28x20x11) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 88 vật hình trụ liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (40x25x33) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,12 kg, còn lại 11,88 kg);
  • 12 vật hình cầu tương tự nhau, màu xám vàng, có phần đế, đường kính 12 cm, cao 17 cm, mỗi vật có liên kết phần dây dẫn dài 01 mét, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (40x25x33) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 1,8 kg, còn lại 9 kg);
  • 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x12,5) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,04 kg, còn lại 1,36 kg);
  • 04 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (26x24x35) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,04 kg, còn lại 5,16 kg);
  • 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 1,23 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,45 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,43 kg);
  • 01 khối hộp hình chữ nhật, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 1,21 kg);
  • 03 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x12) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (30x22x15) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 3,65 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x12) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,19 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,45 kg);
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEI: 352844115541216. Bên trong gắn sim số 0987331447. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, dạng máy gập có bàn phím số. Bên trong gắn sim số 0376776945. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecno Spark Go, màu xám, bên trong gắn sim số 0942768876. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xám – bạc, không đeo biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng, phần yên xe đã bị hư hỏng. Số khung: RLCS5CBY520796, số máy: 5C63520854. Trên xe không có tài sản gì;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI:359216078284535, bên trong gắn sim số 0337583742. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại wave &, màu đỏ – đen – bạc, đeo biển kiểm soát 38H1 – 050.74. Số khung: RLHHC1201BY437068, số máy: HC12E3237178. Xe đã qua sử dụng, trên xe không có tài sản gì;
  • 04 (bốn) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) thùng cát tông màu vàng, kích thước (30x40x55) cm, thùng đã qua sử dụng, không có đồ vật gì bên trong.

* Vật chứng thu giữ trả lại cho chủ sở hữu gồm:

  • 01 chiếc xe ô tô đầu kéo BKS-UN1986, kéo theo romooc BKSUN-1987, xe và rơ mooc đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH T8 - Nhập khẩu và Vận tải hàng hóa Lào - Việt (người đại diện công ty là ông Võ Văn H2).

* Vật chứng chuyển kèm theo hồ sơ vụ án gồm:

  • 04 chiếc đĩa ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với bị cáo Nguyễn Viết K, Lê Khánh CNguyễn Văn Q.

Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKS-HS, ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Viết K về tội "Buôn bán hàng cấm" theo các điểm g, k khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Khánh C về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm g, k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết K từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Khánh C từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 190, điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 bộ luật hình sự: Phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lê Khánh C số tiền 20.000.000 đồng.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Viết K, Nguyễn Văn Q.

* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu số tiền 16.000.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Viết K, 9.000.000 đồng từ bị cáo Lê Khánh C, 1.500.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Văn Q.

* Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 02 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (28x20x11) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối có 88 vật hình trụ liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (34x23x30) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,12 kg, còn lại 5,88 kg);
  • 05 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (25x13,5x13,5) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 09 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (26x28x47) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,4 kg, còn lại 8,9 kg);
  • 06 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (17,5x17,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 49 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (25x30x52) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,04 kg, còn lại 10,16 kg);
  • 04 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (28x20x11) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 88 vật hình trụ liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (40x25x33) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,12 kg, còn lại 11,88 kg);
  • 12 vật hình cầu tương tự nhau, màu xám vàng, có phần đế, đường kính 12 cm, cao 17 cm, mỗi vật có liên kết phần dây dẫn dài 01 mét, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (40x25x33) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 1,8 kg, còn lại 9 kg);
  • 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (15x15x12,5) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,04 kg, còn lại 1,36 kg);
  • 04 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (26x24x35) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,04 kg, còn lại 5,16 kg);
  • 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 1,23 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,45 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,43 kg);
  • 01 khối hộp hình chữ nhật, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 1,21 kg);
  • 03 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x12) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 thùng cattong có kích thước (30x22x15) cm, màu vàng, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 3,65 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x12) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,19 kg);
  • 02 khối hình hộp chữ nhật tương tự nhau, kích thước (14,5x14,5x10) cm, bên ngoài các khối có nhiều hoa văn màu sắc và chữ nước ngoài, trong mỗi khối có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được niêm phong trong 01 túi ni lông màu đen, bên ngoài dán các dải niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong (đã lấy mẫu giám định 0,05 kg, còn lại 2,45 kg);
  • 01 Thẻ sim số 0987331447;
  • 01 Thẻ sim số 0376776945;
  • 01 Thẻ sim số 0942768876;
  • 01 Thẻ sim số 0337583742;
  • 04 (bốn) túi ni lông màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) thùng cát tông màu vàng, kích thước (30x40x55) cm, thùng đã qua sử dụng, không có đồ vật gì bên trong;

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEI: 352844115541216. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, dạng máy gập có bàn phím số. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Tecno Spark Go, màu xám. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI:359216078284535. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
  • ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại wave &, màu đỏ – đen – bạc, đeo biển kiểm soát 38H1 – 050.74. Số khung: RLHHC1201BY437068, số máy: HC12E3237178. Xe đã qua sử dụng, trên xe không có tài sản gì;

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị A ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại wave &, màu đỏ – đen – bạc, đeo biển kiểm soát 38H1 – 050.74. Số khung: RLHHC1201BY437068, số máy: HC12E3237178. Xe đã qua sử dụng, trên xe không có tài sản gì;

- Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu xám – bạc, không đeo biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng, phần yên xe đã bị hư hỏng. Số khung: RLCS5CBY520796, số máy: 5C63520854. Trên xe không có tài sản gì để tiếp tục điều tra xử lý theo thẩm quyền;

(Đặc điểm các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng và giấy ủy nhiệm chi ngày 11/6/2024).

- Tiếp tục tạm giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe mày số 005326 do Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 15/8/2012 mang tên Nguyễn Văn Q để đảm bảo việc thi hành án.

Giấy chứng nhận đăng ký xe kèm theo hồ sơ vụ án.

6. Về án phí: Áp dụng vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Buộc các bị cáo Nguyễn Viết K, Lê Khánh C, Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Viết K, Lê Khánh C, Nguyễn Văn Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc ngày niêm yết bản án chính.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh
  • - VKSND huyện Hương Sơn;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Hương Sơn;
  • - Cơ quan THHS Công an huyện Hương Sơn;
  • - Công an tỉnh (phòng PV 06)
  • - Chi cục THADS huyện Hương Sơn;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;;
  • - UBND xã Sơn Tây và UBND xã Sơn Lĩnh.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH về buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 49/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Viết K + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger