TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS – PT Ngày: 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Cao Việt Hoàng.
Các thẩm phán: ông Nguyễn Hữu Hòa và ông Nguyễn Quang Hòa.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: ông Phùng Đức Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu chính trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ và con bà Nguyễn Thị M; có vợ Nông Thị X (đã ly hôn); con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Trong vụ án này, còn có bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác tuy nhiên không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/01/2024, Nguyễn Văn H mở tài khoản Facebook trên mạng xã hội lấy tên là “Hoàng Nguyễn ", H vào nhóm “Huyện L” thì thấy chị Phạm Diệu L, sinh năm 2001; trú tại: Thôn K, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh đăng bài đổi tiền lẻ mừng tuổi Tết Nguyên đán Giáp Thìn năm 2024 nên H đã nhắn tin hẹn gặp chị L để đổi tiền lẻ nhưng mục đích chiếm đoạt tài sản của chị L. H nhắn tin đổi 15.000.000 đồng tiền lẻ, gồm các mệnh giá: 200 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (10.000.000 đồng); 200 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (4.000.000 đồng); 100 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (1.000.000 đồng). Phí đổi tiền lẻ là 830.000 đồng. Sau đó, chị L cung cấp cho H số điện thoại 0913.868.xxx của anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 2001; trú tại: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, là người yêu của chị L) để hai bên liên lạc với nhau. Khoảng 20 giờ ngày 05/02/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, BKS: 99H1-154.50 gặp anh M1 dựng và ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu BKS: 99F1-177.76 sát lề đường bên phải của đường tỉnh lộ 285 thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo hướng từ thị trấn T đi xã L. Lúc này H vẫn ngồi trên xe, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện, xe vẫn nổ máy. H bảo anh M1 đưa tiền để kiểm tra, anh M1 đồng ý đồng thời đưa cho H 01 túi nilon màu hồng bên trong có đựng 15.000.000 đồng gồm các loại tiền mệnh giá như đã thỏa thuận. Ngay sau khi nhận túi tiền, H bảo anh M1 cung cấp mã QR của Ngân hàng để H chuyển tiền vào khoản, khi thấy anh M1 đang cầm điện thoại để cung cấp mã QR cho H, thì ngay lúc này H treo túi tiền vào móc treo đồ của xe mô tô rồi tăng ga phóng xe bỏ chạy về hướng đê L. Trên đường đi, H tháo sim ra khỏi điện thoại rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đến khu vực đê L thuộc địa phận xã L thì dừng lại cất tiền vào túi áo khoác đang mặc rồi vứt túi nilon và sim điện thoại ở ven đường sau đó điều khiển xe mô tô đi về nhà mình.
Hiện trường nơi xảy ra vụ việc nằm trên trục đường TL285 thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trường là đường thẳng có một hướng đi xã L, huyện L, tỉnh Bắc Ninh và một hướng đi thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Đường được trải bằng nhựa asphalt không có chướng ngại vật ngăn cản hay che khuất tầm nhìn. Lòng đường rộng 7,7m.
Hiện trường xảy ra vụ việc cách cầu T 20m; phía nam sát vỉa hè và khu đất trống; phía bắc đối diện quán tạp hóa nhà anh Đặng Văn B; phía tây hướng đi thị trấn T; phía đông hướng đi xã L. Quá trình khám nghiệm hiện trường không thu giữ dấu vết, tài liệu gì.
Bản án số: 27/2024/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh áp dụng d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Nguyễn Văn H 38 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2024 về tội “Cướp giật tài sản”.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh ra quyết định kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh do có vi phạm trong áp dụng pháp luật theo hướng sửa Bản án sơ thẩm, áp dụng khoản 1 Điều 171 BLHS và giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa cho rằng: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn H có thủ đoạn gian dối, nhằm tạo cơ hội để tiếp cận tài sản. Quá trình thực hiện giao dịch đổi tiền thì anh M1 và H đang đỗ xe cạnh nhau, khi anh M1 đưa cho H 01 túi đựng 15 triệu đồng, H nhận lấy và treo túi nilon tiền vào móc treo đồ ở vị trí giữa của xe mô tô, rồi giả vờ bảo M1 cung cấp mã QR của ngân hàng để H chuyển khoản trả tiền. Lợi dụng lúc anh M1 đang mở mã QR của ngân hàng để cung cấp cho H, thì H tăng ga điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Như vậy, việc chuyển giao tài sản giữa anh M1 và bị cáo chưa hoàn thành, lúc đó anh M1 đứng gần H và tạm giao tài sản cho H quản lý. Thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị hại đã tạm giao tài sản cho bị cáo, sau đó bị cáo mới tăng ga điều khiển xe tẩu thoát. Vì vậy, theo Án lệ số 57/2023/AL của HĐTP TANDTC, thì hành vi của H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” nhưng không thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, mà phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài xác định hành vi cướp giật tài sản của Nguyễn Văn H thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H 38 tháng tù là chưa chính xác, vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm để xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự; xét xử bị cáo H từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn H đồng ý với quan điểm của VKS, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như kháng nghị của Viện trưởng VKS.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong thời hạn pháp luật quy định nên được chấp nhận để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, HĐXX kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn H lợi dụng mạng xã hội Facebook, có thủ đoạn gian dối đổi tiền lẻ mừng tuổi để tiếp cận bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản. Khoảng 20 giờ ngày 05/02/2024, H gặp anh M1 tại đoạn đường B thuộc địa phận thôn G, huyện G và yêu cầu anh M1 đưa số tiền đổi như thỏa thuận để H kiểm tra. Khi nhận tiền từ anh M1, bị cáo bảo anh M1 cung cấp mã QR tài khoản ngân hàng để H chuyển khoản tiền đổi, khi anh M1 đang mở điện thoại để cung cấp mã QR, H lợi dụng tăng ga bỏ chạy cùng số tiền 15 triệu đồng. Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bên đang thực hiện hành vi giao nhận tiền, bị cáo chưa thực hiện việc chuyển tiền cho bị hại, việc chuyển giao tài sản giữa bị hại và bị cáo chưa hoàn thành, tài sản vẫn trong tầm quản lý của bị hại thì bị cáo đã tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát cùng tài sản. Do đó, Bản án sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét Kháng nghị phúc thẩm số 1412/QĐ-VKS-P7 ngày 09/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh về không áp dụng tình tiết định khung “dùng thủ đoạn nguy hiểm” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171 BLHS xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị hại đã tạm giao tài sản cho bị cáo quản lý, sau đó bị cáo mới tăng ga, điều khiển xe tẩu thoát nên không thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” để cướp giật tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS với tình tiết định khung “dùng thủ đoạn nguy hiểm” để xét xử bị cáo 38 tháng tù là vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng kiểm sát nhân dân tỉnh B, áp dụng khoản 1 Điều 171 BLHS để xét xử bị cáo theo hưởng giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 1421/QĐ-VKS-P7 ngày 09/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh; sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 171 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2024.
Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự: quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 49/2024/HS – PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 49/2024/HS – PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYEN VAN H PHAM TOI CUOP GIAT TAI SAN
