Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 49/2024/HS-PT
Ngày: 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Ngọc Giàu;

Ông Hà Chí Quốc.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị S.

Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị SNgân hàng Thương mại Cổ phần Q, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị S, sinh ngày 08-02-1993 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: số nhà E, đường C, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (thời điểm trước ngày 16-3-2022); nơi cư trú hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Hoàng N và bà Nguyễn Thị L; có chồng tên Thái Phước T (đã ly hôn) và 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18-3-2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, địa chỉ trụ sở: tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Hàn Ngọc V: bà Trần Thị Thu H, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Q1 – Khối Ngân hàng bán lẻ- Ngân hàng TMCP Q; vắng mặt có ủy quyền.

Người đại diện theo ủy quyền lại của bà Trần Thị Thu H: Ông K' JacLy, sinh năm 1998; chức vụ: Cán bộ Ngân hàng; địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 019585.24 ngày 22-01-2024), ông K' JacLy có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có một số bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S1Hà Tuấn A quen biết với người tên C (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) đang làm việc bên Campuchia. Vào khoảng tháng 12-2021, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp nhưng nguồn cung cấp thuốc điều trị khan hiếm, Nguyễn Văn S1 đã kêu Tuấn A liên hệ với C đặt mua thuốc điều trị Covid-19 ở Campuchia sau đó vận chuyển về Việt Nam rồi mang đi Thành phố Hồ Chí Minh bán lại để thu lợi.

Sau khi Tuấn A liên hệ với C mua thuốc điều trị Covid-19 thì Tuấn A đưa số điện thoại của C cho Nguyễn Văn S1 trực tiếp liên hệ đặt mua thuốc. Để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện, Nguyễn Văn S1 thỏa thuận với C là giao thuốc vào ban đêm, khoảng thời gian từ 01 đến 02 giờ. Khi thuốc được người của C vận chuyển qua biên giới đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xong thì C sẽ điện thoại thông báo địa điểm cho Nguyễn Văn S1 đến nhận hàng. Hình thức thanh toán là Nguyễn Văn S1 nhận thuốc trước, sau khi bán xong thuốc thì Nguyễn Văn S1 mang tiền lên khu vực biên giới hẹn người của C qua để trả tiền tại khu vực giao nhận thuốc đã thỏa thuận trước đó.

Sau khi có nguồn cung cấp thuốc thì Nguyễn Văn S1 liên hệ với Nguyễn Thị S đang làm nghề bán thuốc tại Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh để cùng buôn bán thuốc với mình. Mỗi ngày Nguyễn Văn S1 báo giá thuốc bên phía Campuchia cho Nguyễn Thị S biết. Nguyễn Thị S sẽ tham khảo giá thuốc tại Thành phố Hồ Chí Minh, khi giá thuốc tại Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn giá thuốc mua vào bên Campuchia thì Nguyễn Thị S thông báo số lượng thuốc cần bán ra để Nguyễn Văn S1 đặt mua thuốc rồi vận chuyển về cho Nguyễn Thị S bán ra thị trường, tiền lời được chia đôi.

Thời gian đầu, Nguyễn Văn S1 dùng xe mô tô đến địa điểm giao nhận thuốc chở về ao nuôi cá của Nguyễn Văn S1 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để kiểm tra, phân loại rồi tiếp tục dùng xe ô tô biển số 70A-243.24 vận chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh giao cho Nguyễn Thị S. Trong thời gian này, Hà Tuấn A đã 04 lần dùng xe mô tô vận chuyển thuốc từ địa điểm giao nhận thuốc với người của C về giao lại cho Nguyễn Văn S1. Hà Tuấn A được Nguyễn Văn S1Nguyễn Thị S chia tiền thu lợi là 5.000.000 đồng.

Thời gian từ đầu tháng 02-2022 đến ngày 10-3-2022, việc mua bán thuốc diễn ra nhiều, lo sợ bị phát hiện nên Nguyễn Văn S1 thuê Nguyễn Văn Đ dùng xe mô tô vận chuyển thuốc từ khu vực biên giới về ao cá hoặc chở đến cây xăng L thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (cách địa điểm lấy thuốc khoảng 05km), mỗi chuyến Nguyễn Văn S1 trả công cho Đ là 1.000.000 đồng. Khi Đ đi vận chuyển thuốc thì Nguyễn Văn S1 kêu Nguyễn Hữu C1 là người trông giữ ao cá cho Nguyễn Văn S1 chạy xe mô tô đi theo phía sau để canh đường, cảnh giới. Nguyễn Văn S1 thuê Phan Văn N1 chở thuốc về Thành Phố Hồ Chí Minh và kêu N1 thuê xe ô tô biển số 70A-333.74 của Đàm Trọng H1, sinh năm 1985, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để làm phương tiện vận chuyển. Nguyễn Văn S1 thỏa thuận với Nghĩa là nếu sử dụng xe của Nguyễn Văn S1 thì N1 được trả công là 500.000 đồng/chuyến, nếu N1 tự thuê xe đi thì được Nguyễn Văn S1 trả công 1.600.000 đồng/chuyến. N1 vận chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh giao cho Nguyễn Thị S và giao cho M (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) tại khu vực công viên L.

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10-3-2022, Nguyễn Văn S1 được người của C tên là A (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại thông báo đã giao thuốc tại khu vực biên giới. Lúc này Nguyễn Văn S1 điều khiển xe ô tô biển số 70A-333.74 lên chòi giữ ao cá và kêu Được điều khiển xe mô tô biển số 70T1-4825 đi chở thuốc tại địa điểm đã hẹn trước, C1 điều khiển xe mô tô biển số 93F1-220.54 theo sau. Nguyễn Văn S1 điện thoại kêu N1 điều khiển xe ô tô biển số 70A-243.24 đến chòi giữ ao cá đợi để chuẩn bị vận chuyển thuốc về Thành phố Hồ Chí Minh. ĐượcC1 đi đến khu vực Cửa khẩu X thì rẽ trái vào đường tỉnh lộ 791 khoảng 01 km thì C1 dừng xe trên đường cảnh giới cho Được chạy xe vào vườn cao su tiếp giáp với đường biên giới Việt Nam – Campuchia để lấy thuốc. Được chất 02 thùng giấy carton đựng thuốc lên xe mô tô rồi chạy ra. Trong lúc Được đi chở thuốc thì Nguyễn Văn S1 điều khiển xe ô tô biển số 70A-333.74 đến bãi đất trống gần cây xăng L1 để đợi. Khoảng 05 phút sau, Đ đi đến rồi cùng Nguyễn Văn S1 chất thuốc từ xe mô tô lên xe ô tô chở về ao cá, cả hai chạy theo sau. Về đến chòi cá, Nguyễn Văn S1 trả tiền công cho Được 600.000 đồng, sau đó Đ đi về nhà. Nguyễn Văn S1C1 cùng nhau lấy thuốc trên xe ô tô biển số 70A-333.74 xuống để kiểm tra và chuẩn bị chất lên xe ô tô biển số 70A-243.24 cho N1 chở đi Thành phố Hồ Chí Minh. Trong lúc đang kiểm tra thuốc thì Nguyễn Văn S1 nhìn thấy nhiều ánh đèn

đi vào trong ao cá nên S1 ném các thùng carton đựng thuốc xuống ao cá thì bị bắt quả tang vào lúc 02 giờ 30 phút, thu giữ 999 vĩ thuốc tân dược nhãn hiệu Favipiravir Tables 400 mg (F), mỗi vĩ 10 viên và 400 lọ thuốc tân dược nhãn hiệu Molnupiravir Capsules 200 mg (M), mỗi lọ 40 viên cùng nhiều tài sản khác.

* Tại Công văn số: 1224/SYT- NV ngày 10-3-2022 và Công văn số: 2441/SYT-NV ngày 28-6-2022 của Sở Y tế tỉnh T khẳng định các loại thuốc Molnupiravir 200 mg (M) và F 400 mg (Feravir 400) chưa được phép nhập khẩu và kinh doanh buôn bán, chưa được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam.

* Kết luận định giá tài sản: số 06/KL-HĐĐGTS ngày 18-3-2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:

+ 999 vĩ thuốc tân dược nhãn hiệu Favipiravir Tablets 400 mg (F), mỗi vĩ 10 viên, tại thời điểm ngày 10-3-2022 có giá trị là 169.830.000 đồng.

+ 400 lọ thuốc tân dược nhãn hiệu Molnupiravir Capsules 200 mg (M), mỗi lọ 40 viên, tại thời điểm ngày 10-3-2022 có giá trị là 294.400.000 đồng.

Tổng giá trị 02 loại thuốc nêu trên là 464.230.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S và các đồng phạm phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Căn cứ điểm a, k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm 1 khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  2. Xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Tiền, tài sản và công cụ, phương tiện thu giữ của các bị cáo có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm:

    + 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, màu trắng, biển số 70A-243.24 đã qua sử dụng, móp cánh cửa sau bên trái của bị cáo Nguyễn Văn S1

    - Và xử lý một số vật chứng khác.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn S1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 24-3-2024 bị cáo Nguyễn Văn S1 rút đơn kháng cáo

Ngày 02 tháng 02 năm 2024 bị cáo Nguyễn Thị S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị S nộp bổ sung kháng cáo xin chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền.

Ngày 07 tháng 02 năm 2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng vụ án theo hướng giao tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu HuynDai, số loại Santafe, biển số 70A-243.24 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q xử lý thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị H2.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Nguyễn Thị S giữ nguyên nội dung kháng cáo (có bổ sung) và nộp những tài liệu: Đơn xin cứu xét; giấy xác nhận của chính quyền địa phương và T1 tiết kiệm số LA 5515748 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q2- Chi nhánh T3- Phòng G.

Người đại diện hợp pháp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q giữ nguyên nội dung kháng cáo của Ngân hàng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:

Bị cáo Nguyễn Thị S tham gia với vai trò là người giúp sức cho bị cáo Nguyễn Văn S1 nhằm mục đích thu lợi nhuận từ việc buôn bán hàng cấm, trên thực tế, số thuốc điều trị Covid-19 nêu trên chưa kịp vận chuyển đi tiêu thụ và chưa bán ra thị trường, tại thời điểm thực hiện tội phạm thì tình hình dịch bệnh đã giảm. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội; bản thân bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang nuôi 02 con nhỏ và có xác nhận của chính quyền địa phương; có thân nhân là người có công với cách mạng. Ngoài ra tính đến thời điểm này không còn dịch bệnh và tổ chức y tế thế giới (WHO) tuyên bố Covid-19 không còn là tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu (tuyên bố ngày 05/5/2023) nên không cần thiết áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm 1 khoản 1 Điều 52 BLHS. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp vào tài khoản số tiền 1.000.000.000 đồng, cho thấy bị cáo có khả năng về kinh tế.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, việc không bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt khác cũng đảm bảo công tác giáo dục. Do đó có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị S.

Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q đề nghị giao chiếc xe ô tô biển số 70A-243.24 cho Ngân hàng xử lý thu hồi nợ, nhận thấy: Chiếc xe ô tô biển số 70A-

243.24 bị cáo Nguyễn Văn S1 dùng để chở thuốc, xác định đây là phương tiện, công cụ thực hiện tội phạm nên căn cứ các Điều 46, 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước là có căn cứ, đúng pháp luật; quyền lợi của Ngân hàng và bà H2 sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị HĐXX xem xét các ý kiến, quan điểm nêu trên của VKSND tỉnh Tây Ninh và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị S, không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng V1; sửa bản án sơ thẩm, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S mức án từ 1.000.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng.

Người đại diện hợp pháp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q trình bày tranh luận:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng; vì Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng và vợ chồng ông S, bà H2 là hoàn toàn hợp pháp; được đăng ký biện pháp bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông S, bà H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên khoản vay này đã quá hạn từ ngày 15-11-2021 và được xác định là nợ xấu. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu, đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông S, bà H2 không thực hiện nghĩa vụ. Ngân hàng không biết việc ông S sử dụng tài sản thế chấp (xe ô tô biển số 70A-243.24) thực hiện hành vi phạm tội, nên Ngân hàng không có lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại tài sản thế chấp và giao cho Ngân hàng được xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Bị cáo Nguyễn Thị S không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị S: Bị cáo rất hối hận, ăn năn về hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được tại ngoại, tự cải tạo, rèn luyện bản thân và tạo điều kiện cho bị cáo được nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ già mất sức lao động và nuôi dưỡng, dạy dỗ 02 con còn quá nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ

thẩm. Do đó hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn S1, bị cáo Nguyễn Thị SNgân hàng Thương mại Cổ phần Q có đơn kháng cáo.

- Ngày 24-3-2024 bị cáo Nguyễn Văn S1 có đơn xin rút kháng cáo. Tòa án đã ra Thông báo về việc rút kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S1 theo quy định tại Điều 338 và Điều 342 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Qua xem xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị SNgân hàng Thương mại Cổ phần Q hợp lệ về hình thức, thời hạn và đảm bảo theo quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thị S tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Văn S1 là kẻ chủ mưu, giữ vai trò chính trong việc mua bán thuốc tân dược từ Campuchia về Việt Nam để bán lại nhằm thu lợi bất chính. Trong quá trình phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn S1 đã tổ chức, phối hợp cùng các bị cáo Hà Anh T2, Nguyễn Thị S, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn N2Nguyễn Hữu C1 cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bị cáo Nguyễn Thị S là người tham khảo giá thuốc tại Thành phố Hồ Chí Minh rồi báo lại cho Nguyễn Văn S1. Sau khi Nguyễn Văn S1Hà Anh T2 thoả thuận mua thuốc từ Campuchia thì Nguyễn Văn S1 thuê Nguyễn Văn Đ vận chuyển thuốc từ Campuchia về Việt Nam; thuê Nguyễn Hữu C1 chạy xe mô tô theo để canh đường, cảnh giới và thuê Nguyễn Văn N2 vận chuyển thuốc đến Thành phố Hồ Chí Minh để giao cho Nguyễn Thị S bán lại thu lợi nhuận.

Đến 02 giờ 30 phút ngày 10-3-2022 khi đang vận chuyển thuốc thì bị bắt quả tang, thu giữ 999 vĩ thuốc tân dược nhãn hiệu Favipiravir Tables 400 mg (F), mỗi vĩ 10 viên và 400 lọ thuốc tân dược nhãn hiệu Molnupiravir Capsules 200 mg (M), mỗi lọ 40 viên; tổng trị giá 02 loại thuốc nêu trên là 464.230.000 đồng.

Cơ quan chức năng xác định các loại thuốc Molnupiravir 200 mg (M) và F 400 mg (Feravir 400) chưa được phép nhập khẩu và kinh doanh buôn bán, chưa được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1, Nguyễn Thị S và các đồng phạm về tội “Mua bán hàng cấm” theo quy định tại các điểm a, k khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị S, thấy rằng:

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; cũng như đã xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo mức hình phạt 05 năm tù là phù hợp và tương xứng với mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, xét toàn diện nội dung vụ án thấy rằng: Trong vụ án, bị cáo Nguyễn Thị S với vai trò giúp sức cho bị cáo Nguyễn Văn S1 trong việc thực hiện hành vi phạm tội; sau khi phạm tội bị cáo đã rất ăn năn, hối cải; ngoài những tình tiết giảm nhẹ Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo, bị cáo còn cung cấp thêm những tài liệu, tình tiết khác; như: bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi dưỡng mẹ già và 02 con còn rất nhỏ (chồng đã ly hôn) và trong năm 2021 bị cáo đã tích cực quyên góp, hỗ trợ về vật chất cho những người có hoàn cảnh khó khăn trong dịch bệnh covid 19, được chính quyền địa phương xác nhận.

Mặc khác, tại thời điểm phạm tội (tháng 3 năm 2022) tình hình dịch bệnh Covid 19 đã thuyên giảm, được kiểm soát và đến hiện nay đã được Tổ chức y tế thế giới (WHO) tuyên bố Covid-19 không còn là tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu, nên Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm 1 khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương; hoàn cảnh gia đình là lao động chính nên chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp; vì bị cáo có tài sản (Thẻ tiết kiệm), có đủ khả năng tự cải tạo. Hơn nữa, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với các tội phạm về kinh tế có xu hướng tăng cường hình phạt tiền, nằm thu lại khoản tiền bị cáo đã gây thất thoát về kinh tế cho Nhà nước; cụ thể quy định tại khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù...

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ điều kiện về kinh tế để thi hành hình phạt tiền, nên áp dụng hình phạt tiền thay cho hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp và cũng đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng

ngừa tội phạm. Nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị S

[5] Xét kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, thấy rằng:

Tài sản thế chấp của ông S và bà H2 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, màu trắng, biển số 70A-243.24 được Nguyễn Văn S1 sử dụng vào việc phạm tội (vận chuyển hàng cấm). Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, thì: “Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản dùng để bảo đảm phải xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý teo quy định đó”. Như vậy, Nguyễn Văn S1 đã dùng chiếc xe ô tô trên thực hiện hành vi Phạm tội, bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với chiếc xe ô tô trên của Nguyễn Văn S1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Quyền lợi của Ngân hàng và bà H2 sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự khác, nếu có yêu cầu.

Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

[6] Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy: có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị S; không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; sửa bản án sơ thẩm.

[7] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[8] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị S;
  • - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Căn cứ điểm a, k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, sung vào ngân sách Nhà nước.

  2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: tiền, tài sản và công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội, gồm:

    • + 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe, màu trắng, biển số 70A-243.24, số khung: 813DKN008677; số máy: G4KJKA448791, đã qua sử dụng, móp cánh cửa sau bên trái của bị cáo Nguyễn Văn S1.
    • - 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, màu trắng đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Hữu C1;
    • - 01 (một) điện thoại hiệu S2 A12, màu xanh của bị cáo Phan Văn N1;
    • - 01 (một) điện thoại hiệu S2 Z Fold3 5G, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại hiệu S2 S10, màu đen, vỡ mặt lưng, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn S1;
    • - Số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng và 01 (một) điện thoại hiệu Realme, màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn Đ;
    • + 01 (một) điện thoại hiệu S2 A11, màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị S.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Bị cáo Nguyễn Thị S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND. TTN;
  • - TAND. huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS. huyện Tân Biên;
  • - Công an huyện Tân Biên;
  • - Phòng PV 06 CATTN;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-PT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 49/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn THị S và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger