|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Hồng Thông.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa trực tiếp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST - HS ngày 04/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Đức T, (tên gọi khác: không); sinh ngày 20 tháng 5 năm 1982 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T1, sinh năm 1958 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1962; Vợ: Ngô Thị H, sinh năm 1982; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006 và con nhỏ sinh năm năm 2011; tiền sự: không; tiền án: Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 40/2020/HSST ngày 30/12/2020. Chấp hành xong ngày 28/02/2022; Nhân thân: Năm 2001, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Bản án số 18/HSST ngày 29/3/2001. Năm 2003, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 138; Khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Bản án số 12/HSST ngày 26/02/2003. Tổng hợp hình phạt chung, buộc chấp hành 18 tháng tù. Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Bản án số 128/2016/HSST ngày 01/11/2016, bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, Võ Đức T đến Trung tâm y tế huyện D uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc xong, T đi về nhà. Khi đi đến khu vực cống ba cửa thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, T gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề xe ôm, hỏi “Anh có biết chỗ nào bán ma túy heroine không mua hộ em hai triệu”, người đó đồng ý cầm tiền rồi đi đâu đó. Khoảng 20 phút sau, người đó quay lại đưa cho T 01 (Một) gói nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy, T cầm gói ma túy cất vào túi quần rồi đi về nhà. Đến khoảng 09 giờ 25 phút cùng ngày, khi đi đến trước cổng chợ S xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã D, huyện D kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải T đang mặc trên người 01 (Một) gói nilon màu trắng, bên trong chứa 16 (Mười sáu) gói có đặc điểm giống nhau, bên trong mỗi gói chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và dẫn giải đối tượng về trụ sở Công an huyện D làm việc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 14 giờ 20 phút ngày 27/12/2023 tại Công an huyện D và Bản kết luận giám định số 93/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Võ Đức T gửi giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, tổng khối lượng là 1,15 gam (Một phẩy mười lăm gam.
Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKSDC ngày 27/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Võ Đức T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố. Xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Võ Đức T từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Võ Đức T. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà, Võ Đức T hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 09 giờ 25 phút ngày 27/12/2023, tại khu vực xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã D, huyện D bắt quả tang Võ Đức T đang có hành vi tàng trữ trái phép 16 (Mười sáu) gói ma túy (Heroine) có tổng khối lượng 1,15 gam (Một phẩy mười lăm gam) với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Như vậy đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Võ Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sự duy trì nòi giống của dân tộc. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, nên lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Bị cáo nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 (một) tiền án là bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự tại Bản án số 40/2020/HSST ngày 30/12/2020. Vì vậy bị cáo T phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không vì mục đích vụ lợi. Theo tài liệu điều tra thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: số ma túy sau khi giám định đựng trong 01 phong bì thư niêm phong ban đầu là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
[8.1] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[8.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Võ Đức T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/12/2023).
2. Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong theo đúng quy định, bên trong có chứa 0.95gam (không phẩy chín mươi lăm gam) ma túy Heroine là vật chứng còn lại thu giữ của Võ Đức T sau khi bóc mở niêm phong lấy mẫu giám định, 01 (một) gói nilon màu trắng, 16 (mười sáu) mảnh giấy ô ly và 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số 24NK77 ngày 28/3/2024.
3. Về án phí: Bị cáo Võ Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Võ Đức Toàn 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
