|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày: 02/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Tôn
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Huế;
- Ông Thẩm Thanh Hải;
- Thư ký phiên toà: Ông Đàm Nhật Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lò Văn P. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/3/2003. Nơi sinh: xã M, Huyện M, tỉnh Lai Châu; Hộ khẩu thường trú: bản Mường Tè, xã M, Huyện M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên cha: Lò Văn T (đã chết); Họ và tên mẹ: Lò Thị D, sinh năm 1964; Anh, chị em ruột: có 03 anh, chị, bị can là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị T1, sinh năm 2002; Con: Bị can có 01 con trai sinh năm 2023.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Cao Bằng từ ngày 13/6/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Lèo Văn H. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/5/1996. Nơi sinh: xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: xóm N, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên Đ; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên cha: Lèo Văn T2, sinh năm 1974; Họ và tên mẹ: Thì Thị Ỷ, sinh năm 1959; Anh, chị em ruột: có 02 anh, chị và 01 em trai, bị can là con thứ ba trong gia đình; Vợ, Con: chưa có.
Tiền án, Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 04/5/2022 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số: 105/QĐ-XPHC; Ngày 27/7/2022 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số: 121/QĐ-XPHC; Ngày 14/9/2023 bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số: 61/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Cao Bằng từ ngày 13/6/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Lèo Văn H: Bà Nguyễn Thị Dạ T3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh C. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ ngày 13/6/2024, tổ công tác Công an huyện B chủ trì phối hợp với Công an xã H, B, Cao Bằng thực hiện nhiệm vụ tại xóm N, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng phát hiện Lò Văn P (sinh năm 2003, trú tại bản Mường Tè, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu) có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, P giao nộp cho tổ công tác 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có gói nilon màu xanh chứa các cục chất bột màu trắng (nghi là ma túy) được đựng trong bao thuốc lá Thăng L, P để trong túi áo trước ngực. Kiểm tra trên người P không phát hiện đồ vật, tài liệu gì. Kiểm tra túi đeo chéo trước ngực của P thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme màu trắng, đã qua sử dụng. P cho biết đây là ma túy được P mua về bằng số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) để bán cho Lèo Văn H (sinh năm 1996, trú tại xóm N, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ toàn bộ các đồ vật tài liệu trên theo quy định. Quá trình xác minh lời khai của P và các tài liệu chứng cứ khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Lèo Văn H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 điện thoại di dộng cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu xanh đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Ngày 13/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tiến hành mở niêm phong, cân xác định vật chứng thu giữ của Lò Văn P. Kết quả: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn P có khối lượng là 0,68g (Không phẩy sáu tám gam).
Tại Kết luận giám định số 360 ngày 21/6/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh C kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của P được gửi giám định là Ma túy, loại Heroine.
Tại biên bản kiểm tra điện thoại kèm bản ảnh ngày 05/9/2024 của Lò Văn P và Lèo Văn H. Kết quả trong cả hai điện thoại của P và H đều có thông tin thể hiện quá trình liên lạc giữa P và H qua ứng dụng Messenger cùng giao dịch chuyển tiền qua ứng dụng ngân hàng M vào ngày 10/6/2024.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Ngày 07/6/2024, do có mối quan hệ quen biết từ trước, Lèo Văn H gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Lò Văn P đề cập vấn đề mua ma túy với P. Lúc đó, P chưa đồng ý. Đến ngày 10/6/2024, P gọi lại cho H đồng ý bán ma túy cho H và yêu cầu H chuyển tiền cho P. Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 0111166661996, chuyển số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đến số tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 8386772001 của P. Sau khi nhận được tiền, ngày 11/6/2024, P đi lên khu vực bản N, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch được 02 (hai) gói ma túy gồm 01 (một) gói to giá 1.000.000đ (Một triệu đồng), 01 (một) gói nhỏ giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, P về nhà và lấy gói ma túy nhỏ ra sử dụng hết, gói còn lại P cất giấu với ý định mang về bán cho H. Chiều ngày 12/6/2024, P bắt xe khách đi từ Lai Châu đến Hà Nội, sáng ngày 13/6/2024, P tiếp tục bắt xe khách từ Hà Nội về Cao Bằng. Khi về đến huyện N, Cao Bằng, P nhắn tin cho H để ra đợi lấy ma túy. Nhận được tin nhắn, H đi ra quán nước ở gần đường Q thuộc xóm N, H, B để đợi P. Tuy nhiên, P chưa kịp đưa ma túy cho H thì đã bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng đã nêu, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Lèo Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt:
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lèo Văn H từ 18 đến 21 tháng tù;
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 24 đến 27 tháng tù.
- - Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí: xử lý theo quy định pháp luật.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo Lèo Văn H trình bày quan điểm: tôi nhất trí đối với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các yếu tố sau: nhân thân người phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức hiểu biết pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lèo Văn H là người sử dụng ma túy, do có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, ngày 07/6/2024 H gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Lò Văn P để hỏi mua ma túy. Ngày 10/6/2024, H sử dụng tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 0111166661996, chuyển số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đến số tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 8386772001 của P để mua ma túy. Ngày 11/6/2024, P một mình đi lên khu vực bản N, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu mua từ một người phụ nữ không rõ lai lịch được hai gói ma túy, loại Heroine gồm: 01 (một) gói to với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 01 (một) gói nhỏ với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, P về nhà và lấy gói ma túy nhỏ ra sử dụng hết, gói còn lại P cất giấu để mang về bán cho H. Ngày 13/6/2024, P bắt xe khách từ Hà Nội đến Cao Bằng, khi đang trên đường đến khu vực xóm N, B để gặp và đưa ma túy cho H thì bị phát hiện và bắt quả tang. Số ma túy P chưa kịp bán cho H có khối lượng là: 0,68g (Không phảy sáu tám gam).
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Lò Văn P và Lèo Văn H là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh xã hội ở địa phương.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lèo Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình Sự; Truy tố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo Lò Văn P, Lèo Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, được sống trong môi trường xã hội lành mạnh nhưng không tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà sử dụng và lệ thuộc vào chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện, đối với bị cáo H là Đảng viên Đ bị cáo không nêu gương mà lại dấn thân vào con đường phạm tội, gây mất trật tự trị án tại địa phương, làm giảm uy tín của Đảng đối với nhận dân. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho P do không xác định được lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì niêm phong số 360/KL-KTHS mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Lò Văn P mua bán trái phép chất ma tuý” mặt sau dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia, đóng dấu của phòng K Công an tỉnh C. Xét thấy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 Plus màu vàng hồng, loại màn hình cảm ứng, số IMEI1: 356710086621707, số IMEI2 356710086621170 (điện thoại cũ đã qua sử dụng), điện thoại của Lò Văn P. Xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, tuyên trả lại cho bị cáo P.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu trắng, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI 1: 868595040138018; số IMEI 2: 868595040138000 điện thoại đã qua sử dụng, của bị cáo P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI 1: 868466055044378; số IMEI 2: 868466055044360 điện thoại đã qua sử dụng, của Lèo Văn H. Xác định, đây là phiên tiện các bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 1.000.000đồng bị cáo H chuyển cho bị cáo P để mua ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo P khai nhận đã dùng hết số tiền này để đi mua ma túy. Do đó, không xác định được bị cáo P hưởng lợi bao nhiêu, nên không có căn cứ để tịch thu số tiền này đối với bị cáo P.
Đối với đề nghị của những người bào chữa cho bị cáo Lèo Văn H: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo Lò Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Lèo Văn H là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí theo quy định và đã có đơn xin miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Lèo Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lèo Văn H 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình Sự, xử phạt bị cáo Lò Văn P: 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 360/KL-KTHS mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Lò Văn P mua bán trái phép chất ma tuý” mặt sau dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia, đóng dấu của phòng K Công an tỉnh C
- - Tịch thu phát mại, sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu trắng, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI 1: 868595040138018; số IMEI 2: 868595040138000 điện thoại đã qua sử dụng, của bị cáo P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, loại màn hình cảm ứng, có số IMEI 1: 868466055044378; số IMEI 2: 868466055044360 điện thoại đã qua sử dụng, của Lèo Văn H.
- - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 Plus màu vàng hồng, loại màn hình cảm ứng, số IMEI1: 356710086621707, số IMEI2 356710086621170 (điện thoại cũ đã qua sử dụng) cho bị cáo Lò Văn P.
(Toàn bộ vật chứng đã được giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản số: 08 ngày 21/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Lò Văn P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Bị cáo Lèo Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Các bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nông Văn Tôn |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG về vụ án hình sự về tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lèo Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
