|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 29/11/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Lân .
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
- Bà Nguyễn Thị Dung.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị N; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 07/9/1998 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Phan Văn N1, sinh năm: 1971 và bà Phạm Thị C, sinh năm: 1975; Chồng: Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1991; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm: 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 06/6/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
- - Bà Trần Thị C1, sinh năm: 1966 (đã chết).
* Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại:
- - Anh Huỳnh Công P, sinh năm: 1984 – là con ruột của bị hại; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
* Người làm chứng:
- Chị Mai Thị Việt N2, sinh năm: 1992; (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm: 1993; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, Bình Định.
Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 09/4/2024, Phan Thị N (không có GPLX hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77E1-895.88 (có dung tích xi lanh 124,9cm³ thuộc sở hữu của N) chở con trai Nguyễn Tấn Đ (sinh năm 2019, ngồi sau) đi từ nhà tại thôn N, xã C, huyện P theo đường bê tông hướng Đông – Tây đến Trường mầm non Đ2 tại thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; đến khoảng 06 giờ 28 phút cùng ngày, khi đến đoạn gần ngã tư đường bê tông liên thôn thuộc thôn N, xã C, huyện P, Nga điều khiển xe mô tô 77E1-895.88 với tốc độ khoảng 30km/h bên phải của phần đường phía Đông theo chiều đi. Đoạn đường tại ngã tư này có đặc điểm: chiều đường Đ – Tây, không đối xứng với nhau; phần đường phía Tây ngã tư rộng gấp đôi phần đường phía Đ1 và lệch về hướng Bắc; phần đường phía Đông lệch về hướng Nam so với phần đường phía Tây, mép đường phía Bắc của phần đường phía Đông đối xứng với mép đường phía Nam của phần đường phía Tây qua ngã tư; chiều đường B - N có đặc điểm: thẳng với nhau và rộng gấp đôi phần đường phía Đ1. Nên ngã tư theo chiều Đ – Tây và ngược lại bị lệch (ngã tư không đối xứng với nhau); ở mép đường bên phải gần ngã tư, theo chiều xe chạy của N (mép đường phía Bắc của phần đường phía Đông), có hàng rào lưới B40 và vườn cây xanh cao khoảng 2,5-3m, che khuất tầm nhìn nên N không nhìn thấy các phương tiện đang di chuyển từ hướng Bắc – Nam vào ngã tư, tuy vậy Nga không bóp còi, giảm tốc độ mà vẫn điều khiển xe chạy thẳng từ nhánh đường phía Đ1 (bên phải theo chiều đi), băng qua ngã tư để sang phần đường phía Nam của nhánh đường phía T2 (chạy trái đường).
Cùng lúc này, có bà Trần Thị C1 (sinh năm: 1966 ở thôn N, xã C, huyện P; bà C1 có GPLX hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47R4-0845 đến ngã tư, theo hướng B - N. Vì tại góc phía Đông ngã tư, có hàng rào lưới B40 và vườn cây xanh cao che khuất tầm nhìn nên bà C1 cũng không thấy xe mô tô do N điều khiển đang chạy qua đường theo chiều Đ – Tây nên bà C1 cũng không giảm tốc độ mà điều khiển xe tiếp tục chạy thẳng qua ngã tư.
Khi xe mô tô do Phan Thị N điều khiển vào gần giữa đường chiều B-N thì mới thấy nhau và thấy hai xe mô tô sắp va chạm, bà C1 hãm phanh nhưng xe không dừng ngay mà trượt tới trước 2,32m và có chiều hướng quay xe về hướng Bắc; Lúc này, N mới phát hiện xe mô tô của bà C1 từ hướng Bắc đến nên hãm phanh, xe trượt về trước 0,65m và có chiều hướng nghiêng sang trái, dẫn đến gác chân trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 77E1-895.88 do N điều khiển móc vào phần vành, nan hoa xe, bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 47R4-0845 do bà C1 điều khiển, làm xe mô tô và bà C1 ngã nhào về phía trước, xe mô tô 77E1-895.88 và N tự ngã trượt về phía trước 01 đoạn và dừng lại ở góc đường phía Tây Nam của ngã tư.
Hậu quả vụ tai nạn: Bà Trần Thị C1 bị thương nặng và chết trên đường đưa đi cấp cứu. Phan Thị N và Nguyễn Tấn Đ bị xây xát nhẹ.
Theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 94/KLGĐTT-PYBĐ ngày 26/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về nguyên nhân chết của Trần Thị C1: Chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy, chấn thương sọ não, chấn thương lồng ngực điều trị không hồi phục.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 09/4/2024 tại Trung tâm y tế huyện P xác định Phan Thị N: 0mg/100 ml máu; kết quả xét nghiệm ma túy: âm tính.
Hiện trường vụ tai nạn có sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ án kèm theo hồ sơ vụ án.
* Về phương tiện liên quan đến vụ tai nạn: Sau tai nạn, Cơ quan CSĐT đã tạm giữ và xử lý trả lại cho chủ sở hữu và người đại diện: 01 (một) xe mô tô, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Phan Thị N và 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mang tên Phan Thị N của xe mô tô biển kiểm soát 77E1-895.88; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 47R4-0845 và 01(một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị C1.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ tai nạn, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền là 60.000.000 đồng. Người đại diện gia đình bị hại có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSPC, ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Phan Thị N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phan Thị N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Phan Thị N với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo Phan Thị N cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.
Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa, bị cáo Phan Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện gia đình bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với lời khai của người đại diện của gia đình bị hại, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ án, kết luận giám định pháp y về tử thi và đã được HĐXX thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 09/4/2024 tại đường bê tông liên thôn thuộc thôn N, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định là do phần lớn lỗi thuộc về Phan Thị N, khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đã vi phạm những quy định của Luật Giao thông đường bộ. Đó là điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77E1-895.88, có dung tích xi lanh 124,9cm³ nhưng không có Giấy phép lái xe theo quy định; điều khiển xe mô tô chạy từ đường nhánh để sang đường, tuy bị che khuất tầm nhìn nhưng không giảm tốc độ, không có báo hiệu, không nhường đường cho xe chạy trên đường chính từ bên phải tới và điều khiển xe sang đường không đúng quy định nên khi thấy xe mô tô 47R4-0845 do bà Trần Thị C1 điều khiển chạy trên đường chính, hướng Bắc – Nam đang chạy trên ngã tư thì N không kịp xử lý, đã để đầu gác chân trước, bên phải xe mô tô 77E1-895.88 móc vào phần vành, nan hoa xe, bánh trước xe mô tô 47R4 -0845 dẫn đến tai nạn gây hậu quả bà Trần Thị C1 chết.
Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ của Phan Thị N đã vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1, khoản 3 Điều 24, gây ra hậu quả làm một người chết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố để cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của BLHS thuộc trường hợp “Không có giấy phép lái xe theo quy định”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Phan Thị N về tội danh và khung hình phạt nêu trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng trên lĩnh vực giao thông đường bộ gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn giao thông công cộng ở địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình chung tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
[3]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ý ăn năn, hối cải. Bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và người đại diện của gia đình bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Xét nguyên nhân của vụ tai nạn, lỗi của bị cáo là chủ yếu, tuy nhiên, bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô đến đoạn đường giao nhau, có tầm nhìn bị che khuất nhưng không áp dụng các biện pháp để phòng tránh tai nạn như quan sát để giảm tốc độ hoặc sử dụng còi để báo hiệu, do đó đã xử lý không kịp, đây là một phần nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, tuy phạm tội rất nghiêm trọng nhưng do lỗi vô ý. Do đó, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 BLHS năm 2015 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt Viện kiểm sát đã truy tố cũng phù hợp. Đồng thời, xét bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi do vậy việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, thấy rằng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ em nên HĐXX xem xét áp dụng Điều 65 để cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt có điều kiện cũng đủ tác dụng răn đe.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[4.1]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả với số tiền 60.000.000 đồng, tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện của gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX không xem xét.
[4.2]. Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu và người đại diện: 01 (một) xe mô tô, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Phan Thị N và 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự mang tên Phan Thị N của xe mô tô biển kiểm soát 77E1-895.88; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 47R4-0845 và 01(một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị C1 theo đúng quy định nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phan Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thị N 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án 29/11/2024.
- Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không.
Giao bị cáo Phan Thị N cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Phan Thị N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng người đại diện của gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị N- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
