|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Xuân Tú
- Ông Nguyễn Ngọc Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Bùi Văn H, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1998, tại huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Mường; Quốc tịch:Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Bùi Văn P, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1973; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo chưa có vợ, con; Nhân thân: Tháng 2 năm 2017 tham gia nghĩa vụ quân sự đến tháng 01 năm 2019 xuất ngũ về địa phương. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07-01-2024, đến ngày 13-01-2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Văn K, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1996, tại huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm Y, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Bùi Văn H2 (đã chết) và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1968; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Bùi Thị Thu A; chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07-01-2024, đến ngày 13-01-2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
2
· Những người làm chứng:
- Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Ông Phạm Xuân L, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 20 giờ 40 phút ngày 06 - 01 - 2024, tại đoạn đường ĐT 453 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Công an huyện H phát hiện và bắt quả tang Bùi Văn H và Bùi Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,1296 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra, H và K khai nhận H và K hiện làm công nhân tại công trường xây dựng Cụm công nghiệp xã T thuộc thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Do cùng là người sử dụng ma túy Heroine nên tối ngày 06 - 01 - 2024, H và K rủ nhau mỗi người góp 200.000 đồng để mua ma túy Heroine về sử dụng chung. H là người cầm tiền cùng K đi bộ đến đoạn đường ĐT453, thuộc địa phận thôn N, xã T, tại đây H và K gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ; qua nói chuyện biết người này có bán ma túy Heroine nên H đặt vấn đề mua và đưa cho người đàn ông này số tiền 400.000 đồng; người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho H 01 (một) gói giấy tráng kim màu trắng, H biết đó ma túy (Heroine) nên cầm ở tay phải, cùng K đi tìm nơi sử dụng. Khi cả hai đi đến đoạn đường ĐT453 thuộc địa phận thôn N, xã T thì cả hai bị Công an huyện H kiểm tra bắt quả tang. Lực lượng công an đã tiến hành thu giữ, niêm phong số ma túy của H, K trước sự chứng kiến của ông Phạm Ngọc T và ông Phạm Xuân L. Khám xét chỗ ở của H và K tại thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại bản kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 10-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1296 gam".
Bản cáo trạng số 47/CT-VKSHH ngày 11-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị
3
cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07-01-2024. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07-01-2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 27/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, các bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nhau và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 06-01-2024; Bản kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 10-01-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; L1 khai những người làm chứng ông Phạm Ngọc T và ông Phạm Xuân L cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 40 phút ngày 06 - 01 - 2024, tại đoạn đường ĐT 453 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, các
4
bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K đã có hành vi cùng nhau tàng trữ trái phép 0,1296 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị Công an huyện H, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau:
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...;
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về vai trò đồng phạm trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, bị cáo H là người trực tiếp cầm tiền và trực tiếp giao dịch mua ma túy để các bị cáo sử dụng nên xếp vai trò thứ nhất, bị cáo K xếp vai trò thứ hai trong vụ án.
[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
[6] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo H có thời gian tham gia quân ngũ nên được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, cần phải tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị
5
cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
[7] Các bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về nguồn gốc 0,1296 gam ma túy, loại Heroin, các bị cáo H và K khai nhận vào ngày 06-01-2024, các bị cáo mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho các bị cáo. Ngoài lời khai của các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không có căn cứ để xử lý trong vụ án này phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình thu giữ, quản lý của các bị cáo các bị cáo H và K được niêm phong trong phong bì số 27/KL-KTHS của phòng K1 Công an tỉnh T là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu hủy.
[10] Về án phí: Các bị cáo H và K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07-01-2024. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 07-01-2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,0870 gam (Không phảy không nghìn tms trăm bảy mươi gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Bùi Văn H và Bùi Văn K trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 27/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T.
Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày
6
12-4-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn H và Bùi Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Bích Thủy |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn Hiếu và Bùi Văn Khánh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
