TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 17/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hữu và Ông Từ Hữu Yên
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký TAND huyện Thạch Hà;
Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn C - Kiểm sát viên.
Vào lúc 07 giờ, 30 phút, ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Cảnh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 03/02/1965, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú: số nhà B, ngách A, ngõ E, đường Đ; xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Hồ Cảnh T1 (đã mất); Con bà: Hồ Thị H; Sinh năm: 1932; Hiện cư trú cùng nhà tại xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ 5; Vợ: Hồ Thị H1; Sinh năm: 1968; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: 03 người con, con lớn nhất sinh 1990, con nhỏ nhất sinh 1994; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An từ ngày 10/5/2024 cho đến nay; (Có mặt)
* Bị hại: Ông Trần Văn S; Sinh năm 1954; Nơi cư trú: khối phố F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T2, sinh năm 1987; Nơi đăng ký HKTT: số nhà G, ngách A, ngõ B, đường L, khối phố F, phường Đ, thành phố H, Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Công nhân. (Có mặt)
10
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Cảnh T, sinh năm 1965, HKTT: xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An là, quản lý công nhân, thi công công trình cửa hàng bán, bảo dưỡng xe ô tô Ford Việt Nam, có địa chỉ tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 09/01/2024, Hồ Cảnh T điều khiển xe ô tô BKS 37K-098.38 di chuyển trên tuyến đường Q đoạn tránh thành phố H theo hướng từ vòng xuyến xã T đi đến Bến xe thành phố H, khi đến gần Cầu N, lúc này T điểu khiển xe đi trên làn đường dành cho xe cơ giới bên phải theo chiều di của mình, với tốc độ khoảng 50km/h (theo lời khai của Hồ Cảnh T). T quan sát bên đường thì thấy phía trước Cầu N có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên nên đã giảm ga, giảm tốc độ và tiếp tục điều khiển xe ô tô BKS 37K-098.38 di chuyển thẳng về phía trước. Khi xe ô tô di chuyển qua ngã tư giao nhau với đường ven sông V mạn phía Bắc của Cầu N 2, rồi di chuyển đến khoảng giữa Cầu N thì Hồ Cảnh T quan sát thấy tại đường nhánh bên phải, phía trước (đường ven sông V, ở mạn phía Nam của Cầu N) có một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô di chuyển đến.
Cùng lúc này, ông Trần Văn S, sinh năm 1954, trú tại phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đi câu cá, đang điều khiển xe mô tô BKS 38N2-4953 di chuyển trên đường ven sông V (mạn phía Nam Cầu N) đến đoạn giao nhau với đường Q đoạn tránh thành phố H, theo hướng từ phải qua trái so với chiều di chuyển của xe ô tô BKS 37K-098.38 do Hồ Cảnh T điều khiển (chính là người đàn ông mà T quan sát thấy nói trên). Quan sát thấy ông S điều khiển xe mô tô di chuyển đến cách vị trí giao nhau khoảng 20-30 mét, Hồ Cảnh T đã bóp còi báo hiệu, tiếp tục giảm chân ga để giảm tốc độ xe ô tô BKS 37K-098.38 và tiếp tục di chuyển thẳng về phía trước. Khi Hồ Cảnh T điều khiển xe ô tô di chuyển đi hết C, đến gần điểm giao nhau (tại vị trí Km0+980 ) thì ông Trần Văn S cũng điều khiển xe mô tô BKS 38N2-4953 di chuyển đến cách điểm giao nhau khoảng 4-5 mét. Đồng thời ông S tiếp tục điều khiển xe mô tô để di chuyển qua điểm giao nhau. Thấy vậy, Hồ Cảnh T đạp phanh xe ô tô, đồng thời đánh lái xe nhẹ sang phía bên trái để tránh va chạm, ngoài ra không kịp có xử lý gì khác. Tuy nhiên, do khoảng cách của hai phương tiện đã quá gần nên phía trước đầu xe ô tô BKS 37K-098.38 do ông T điều khiển đã húc ngang vào bên trái xe mô tô BKS 38N2-4953 do ông S điều khiển, theo chiều vuông góc, làm ông S và xe mô tô bị hất văng về phía trước. Hồ Cảnh T dừng xe lại, xuống dắt xe mô tô BKS 38N2-4953 vào bên lề đường, đồng thời giúp đỡ, đưa ông S đi đến Bệnh viện cấp cứu. Hậu quả, ông Trần Văn S bị chấn thương sọ não nên được chuyển ra Bệnh viện B, thành phố Hà Nội để điều trị đến ngày 01/02/2024 thì chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh H, rồi chuyển đến Bệnh viện phục hồi chức năng điều trị đến ngày 01/7/2024 thì trở về nhà điều trị cho đến nay. Hiện tại ông Trần Văn S bị liệt ½ người trái, kết quả giám định thương tích là 74%.
10
Vụ tai nạn giao thông nói trên được camera hành trình lắp đặt trên xe ô tô BKS: 37K-098.38 ghi nhận lại. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Hồ Cảnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết quả điều tra xác định, Hồ Cảnh T đã được cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 đang còn thời hạn, đủ điều kiện điều khiển xe ô tô con tham gia giao thông. Ông Trần Văn S không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, không đủ điều kiện điều khiển xe mô tô tham gia giao thông. Tại thời điểm điều khiển phương tiện gây tai nạn, Hồ Cảnh T và ông Trần Văn S không sử dụng rượu, bia hay chất kích thích gì khác.
* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường do Phòng C1 Công an tỉnh H lập ngày 09/01/2024 phản ánh:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định tại km 0+980 đường Q đoạn tránh Thành phố H thuộc địa phận tổ dân phố A, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi giao nhau giữa đường Q đoạn tránh thành phố H với đường bờ đê bờ Nam sông V. Đoạn đường xảy ra tai nạn rộng, thoáng, không bị che khuất tầm nhìn.
Đường Quốc lộ 1A đoạn tránh thành phố H là đường hai chiều, được phân định bằng vạch sơn kẻ đường nét đứt màu vàng, mỗi phần đường có 02 làn đường, được rải nhựa bằng phẳng. Trong đó, làn đường bên ngoài rộng 3,5 mét; làn đường bên trong rộng 02 mét được phân định bằng vạch sơn kẻ đường đứt quãng. Tại đoạn giao nhau giữa đường Q đoạn tránh thành phố H với đường bờ đê ở bờ nam sông V có có kẻ vạch vạch sơn mắt võng (báo hiệu cấm dừng phương tiện).
Đường bờ đê sông V là đường bê tông bằng phẳng, tại vị trí phía bắc Cầu N (km0+750) có gắn biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (ký hiệu W.207a). Vị trí va chạm giữa hai phương tiện xảy ra trên làn đường dành cho xe cơ giới phía bên phải theo chiều di chuyển của xe ô tô BKS: 37K-098.38, ngay tại điểm giao nhau giữa đường Q đoạn tránh thành phố H với đường nhánh (đường ven sông V nam ở phía Nam Cầu N).
* Kết quả khám nghiệm phương tiện:
+ Xe ô tô con BKS: 37K-098.38 có các dấu vết: Nắp ca pô phía trước, tại vị trí cách mép bên phải đầu xe 75cm có vết móp lõm, kích thước (30x16)cm, chiều hướng từ trước ra sau; Góc bên phải ba đơ sốc phía trước, tại vị trí cách bên phải đầu xe 20cm, có dấu vết nứt, bong tróc sơn, kích thước (20x15)cm. T3 dấu vết cách mặt đất 50cm; Góc bên phải ba đơ sốc phía trước, tại vị trí cách bên phải đầu xe 35cm, có dấu vết trượt xước, bong tróc sơn, kích thước (18x6)cm, tâm vết cách mặt đất 50cm; Góc bên phải ba đờ sốc phía trước, tại vị trí cách mép bên phải 42cm, có dấu vết trượt xước nhựa, bong tróc sơn, kích thước (10x8)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp nhựa bảo vệ biển kiểm soát phía trước bị nứt vỡ, trượt xước nhựa, kích thước (33x17)cm, chiều hướng từ trước ra sau; Góc bên
10
phải ba đơ sốc phía trước, tại vị trí cách phía trước bên phải đầu xe 74cm, có dấu vết trượt xước, bong tróc sơn, kích thước (15x7)cm. Góc bên trái ba đơ sốc phía trước, tại vị trí cách mép đầu xe bên trái 27cm, có dấu vết trượt xước, bong tróc sơn, kích thước (2,5x2)cm. Về kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, đèn tín hiệu, đèn chiếu sáng, còi hoạt động bình thường.
+ Xe mô tô BKS: 38N2- 4953 có các dấu vết: Vị trí cố định dây phanh và trục bánh trước có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen, dạng sơn, kích thước (2x0,5)cm. Đầu mút giá để chân phía trước, bên trái có dấu vết trượt xước cao su, kích thước (4x2)cm. Đầu mút giá để chân phía sau, bên trái có dấu vết trượt xước cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng dạng sơn, kích thước (2x1)cm.; M ngoài giảm xóc phía sau, bên trái có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, dạng sơn, kích thước (18x35)cm. Đầu mút tay phanh có dấu vết mài trượt kim loại, kích thước (1x1,2)cm; Giá để chân phía trước, bên phải bị cong gập từ sau ra trước, đầu mút giá để chân có dấu vết cà xước kim loại, cao su, kích thước (4x3)cm, có bám dính chất màu trắng (bột đá); Đầu mút giá để chân phía sau, bên phải có dấu vết cà xước kim loại, cao su, kích thước (3x2)cm, có bám dính chất màu trắng (bột đá); Tại đầu mút chân phanh có dấu vết cà xước kim loại, kích thước (4x0,5)cm, bám dính chất màu trắng (bột đá); Ốp bảo vệ ống xả có dấu vết cà xước kim loại, có bám dính chất màu trắng (bột đá), kích thước (37x4)cm. Về kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống chuyển động, phanh, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, còi hoạt động bình thường.
* Kết quả định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27/KLĐG ngày 07/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận giá trị thiệt hại của tài sản: 01 xe ô tô con nhãn hiệu HONDA, số loại: CIVIC, màu sơn: đen, BKS: 37K-098, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông: 3.200.000 đồng; 01 xe mô tô JUPITER, màu đen-bạc, BKS: 38N2-4953, xe đã qua sử dụng và bị hư hỏng do tai nạn giao thông: 1.200.000 đồng.
* Vật chứng, tài liệu thu giữ của vụ án gồm:
- 01 xe ô tô con nhãn hiệu HONDA, số loại: CIVIC, màu sơn: đen, BKS: 37K-098.38, số máy: R18A13951771; số khung: RLHFD15258Y801776, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông cùng giấy tờ liên quan gồm: 01 bản gốc giấy chứng nhận kiểm định số DA 5457185 của xe ô tô BKS: 37K-098.38; 01 bản gốc giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0502566 của xe ô tô BKS: BKS: 37K-098.38; 01 xe mô tô JUPITER, màu đen-bạc, số máy: 5B91033892, số khung: RLCJ5B9107Y033892, BKS: 38N2-4953, xe đã qua sử dụng và bị hư hỏng do tai nạn giao thông (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô); 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2, số [...] mang tên Hồ Cảnh T.
Quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại 01 chiếc xe ô tô con BKS: 37K-098.38, kèm theo giấy tờ có liên quan nói trên cho chủ sở hữu tài sản là Hồ Cảnh
10
T; Trả lại xe mô tô BKS: 38N2-4953 (kèm theo giấy đăng ký xe) cho chủ sở hữu tài sản là chị Trần Thị T2, sinh năm 1987, HKTT: phường Đ, thành phố H, Hà Tĩnh. Đối với giấy phép lái xe mang tên Hồ Cảnh T, CQĐT đã chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệmdân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 50.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đầy đủ và không có yêu cầu gì thêm. Đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Với hành vi trên, tại cáo trạng số: 51/CT-VKSTH, ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hồ Cảnh Thành về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1, Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Cảnh T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo. Trả lại giấy phép lái xe hạng A1, B2, số [...] mang tên Hồ Cảnh T cho bị cáo.
- Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
- Đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Tai nạn xảy ra ngoài ý muốn, bản thân bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình. Do đó, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Vì vậy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định, định giá và
10
các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở khẳng định: Vào 15 giờ 53 phút, ngày 09/01/2024, tại Km 0+980 đường Q đoạn tránh thành phố H thuộc địa phận tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Hồ Cảnh T điều khiển xe ôtô con biển kiểm soát 37K.098.38 do không chấp hành nghiêm túc biển báo hiệu đường bộ (biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên), quá trình lái xe mặc dù trước đó đã quan sát thấy ông Trần Văn S điều khiển xe mô tô di chuyển từ đường nhánh đến điểm giao nhau cùng mức,(trường hợp buộc phải giảm tốc độ) nhưng không giảm tốc độ đủ mức để đảm bảo an toàn nên dẫn đến tai nạn giao thông, gây thương tích cho ông Trần Văn S với tỷ lệ 74%. Hành vi của Hồ Cảnh T đã vi phạm khoản 23, Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định về “Các hành vi nghiêm cấm”; Vi phạm vào khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về “Quy tắc chung”; Vi phạm khoản 1, Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định về “Chấp hành báo hiệu đường bộ”; Khoản 1, khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Các trường hợp phải giảm tốc độ”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo Hồ Cảnh T về tội “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào;
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cãi; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả gây ra. Ngoài ra, bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự; có bố đẻ được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống mỹ hạng Nhất, Huy chương chống Pháp hạng nhì; Mẹ được tặng huân chương chống Mỹ hạng Ba; nguyên nhân tai nạn có một phần lỗi của bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi của bị cáo Hồ Cảnh T là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe ô tô là một nguồn nguy hiểm cao độ khi đi vào khu vực giao nhau với đường không ưu tiên, có biển cảnh báo nguy hiểm, mặc dù bị cáo có giảm tốc độ nhưng việc xử lý chưa đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn, gây thương tích nặng cho anh Trần Văn S, với tỷ lệ tổn thương sức khỏe là 74%. Do đó, việc truy tố, đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc là cần thiết, để răn đe giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, sau khi tai nạn xảy ra đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quan sát camera hành trình cho thấy nguyên nhân tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của ông Trần Văn S, quá trình tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo
10
quy định, điều khiển xe mô tô di chuyển trên đường nhánh đến điểm giao nhau với đường ưu tiên nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ và nhường đường cho xe ô tô đi trên đường ưu tiên di chuyển đến. (đã vi phạm các quy định tại khoản 1, khoản 4, Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định về “Chấp hành báo hiệu đường bộ” và khoản 1, khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G quy định về “Các trường hợp phải giảm tốc độ”; khoản 3, Điều 24 Luật giao thông đường bộ quy định về “Nhường đường tại nơi giao nhau”).
Xét thấy bị cáo Hồ Cảnh T phạm tội với lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo, cải tạo giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, làm nghề tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong về bồi thường dân sự, nay không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6] Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Các quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án là có căn cứ, đảm bảo đúng quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Đối với Giấy phép lái xe hạng A1, B2, số [...] mang tên Hồ Cảnh T do không áp dụng hình phạt bổ sung nên cần trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 BLHS; khoản 3 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333BLTTHS; khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Cảnh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
10
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Cảnh T 12(mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24(Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/9/2024). Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Hồ Cảnh T cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
3. Về xử lý vật chứng, giấy tờ: Trả lại giấy phép lái xe hạng A1, B2, số [...] mang tên Hồ Cảnh T cho bị cáo khi bản án có hiệu lực.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Cảnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhân |
10
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Cảnh Thành - 260
