TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày: 14 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thanh Nhàn
- Ông Phạm Quốc Hưng
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: bà Tạ Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị L, tên gọi khác: không, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1960, tại huyện T, thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Thị T1; chồng: Đặng Thái H (đã ly hôn), con đẻ: Nguyễn Văn N, con nuôi: Đặng Thái H1, Bùi Khuẩy C. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp bảo lĩnh, hiện tại ngoại. vắng mặt.
Bị hại: ông Phạm Xuân T2, sinh năm 1982;
Nơi cư trú: khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt
Người làm chứng: bà Nguyễn Thị H2, bà Bùi Thị L1, anh Phạm Văn P, chị Lê Hương C1, chị Nguyễn Hồng T3. Đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Thị L ký Hợp đồng tín dụng số N12.4315.04/HĐTD ngày 04/5/2012 và Hợp đồng tín dụng số N12.4315.12/HĐTD ngày 06/8/2012 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi nhánh Q - Phòng G (viết tắt Ngân hàng), để vay tổng cộng số tiền 950.000.000 đồng. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 280m² có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 276547, số vào sổ H 00062, do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 18/01/2005, mang tên Bùi Thị L, trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4, tại khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Do Bùi Thị L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái yêu cầu Bùi Thị L phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi tổng cộng là 2.686.573.780 đồng.
Ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử và ban hành Bản án số 02/2019/KDTM-ST với nội dung chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc Bùi Thị L phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.201.548.486 đồng. Bị cáo Bùi Thị L kháng cáo. Ngày 12/02/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định số 02/2020/QĐ-PT, đình chỉ xét xử phúc thẩm, Bản án sơ thẩm có hiệu lực.
Do Bùi Thị L không tự nguyện thi hành án nên ngày 17/6/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái tiến hành thủ tục bán đấu giá tài sản đối với thửa đất và tài sản trên trên đất của Bùi Thị L. ông Phạm Xuân T2 là người trúng đấu giá tài sản và đã được giao tài sản. Do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông T2 khóa cổng lại rồi đi về.
Đến khoảng 09 giờ ngày 09/9/2022, Bùi Thị L mang vật dụng sinh hoạt vào ngôi nhà của ông T2 để sinh sống cùng với con nuôi là Bùi Khuẩy C và cháu Nguyễn Thị Ánh D, ông T2 yêu cầu bà L cùng những người sinh sống trên ngôi nhà của ông ra khỏi nhà nhưng Bùi Thị L cùng C và cháu D không ra khỏi nhà. Sau đó ông T2 có đưa nhóm thợ đến để sửa nhà, tại thời điểm đó bà L không có nhà chỉ có bà Bùi Thị L1 và bà Nguyễn Thị H2 trông nhà hộ bà L không cho nhóm thợ làm. Sự việc xảy ra Công an phường H có đến vận động, thuyết phục nhưng Bùi Thị L không nghe. Do sự việc xảy ra nhiều lần gây mất trật tự trên địa bàn, Ủy ban nhân dân phường H đã có báo cáo và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/02/2023 ông T2 được Ủy ban nhân dân thành phố M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số DH 543906, số vào sổ CH05285. Ông T2 tiếp tục yêu cầu Bùi Thị L ra khỏi nhà, nhưng Bùi Thị L không đi, nên ông T2 tiếp tục làm đơn tố cáo Bùi Thị L đến Công an thành phố M.
Ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Thị L về hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà L có khai nhờ người thợ khóa mở khóa hộ và đã vứt khóa đó đi, ông T2 khai chiếc khóa không có giá trị nên không yêu cầu bị cáo phải trả nên không xét
Tại bản cáo trạng số 305/CT-VKSMC ngày 22 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố Bùi Thị L về tội: “Xâm phạm chỗ ở của người khác” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 158 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Thị L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Người bị hại ông Phạm Xuân T2 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra xác nhận: ông là người trúng đấu giá nhà và đất tại số F ngõ A đường T, khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi trúng đấu giá ông đã được giao tài sản, do chưa ở nên ông khóa cổng nhà đi về. Sau đó bà L đã tự ý vào nhà ông để sinh sống, ông nhiều lần yêu cầu bà L chuyển đồ đạc ra khỏi nhà nhưng bà L không đồng ý và còn chửi bới lại, chính quyền và cơ quan chức năng đến yêu cầu bà L trả nhà nhưng bà L không chấp hành. Quá trình điều tra em trai bà L đã mua lại ngôi nhà và đất trên, nên anh đề nghị được giảm nhẹ hình phạt cho bà L và không yêu cầu bà L phải trả lại ổ khóa mà bà L làm mất.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H2, bà Bùi Thị L1, đều vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Bà L1 và bà H3 đều biết tài sản của Bùi Thị L đã được bán đấu giá cho ông T2, tuy nhiên do bà L không có nơi ở nên đã dọn vào ở tại đó, các bà chỉ giúp trông nhà khi bà L đi chữa bệnh và cho bà L nhờ điện thắp sáng.
Người làm chứng anh Phạm Văn P, chị Nguyễn Hồng T3 đều vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: ngày 09/9/2022 anh, chị được ông T2 nhớ đến giúp tháo dỡ, dọn dẹp đồ đạc và cải tạo lại căn nhà nhưng khi đến nơi thì anh, chị thấy nhà có dây điện nối từ nhà đối diện sang, trong phòng thờ có đồ dùng sinh hoạt. Anh P có gọi điện báo cho ông T2 thì ông T2 bảo khóa cửa lại, sau đó anh P mua khóa mới khóa cổng lại nhưng hàng xóm của bà L ở đối diện ngăn cản không cho khóa và còn chửi bới đuổi anh, chị đi
Người làm chứng chị Lê Hương C1 vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng tháng 09 năm 2022, chị thấy có lực lượng Công an, chính quyền đến cưỡng chế thu hồi tài sản tại nhà bà Bùi Thị L, chị thấy lực lượng cưỡng chế bê hết đồ đạc của bà L ra ngoài. Sau đó chị vẫn thấy bà L ra vào căn nhà trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 158; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Thị L từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về phần dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường, nên không xét
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét lời các khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Bùi Thị L sau khi bị cưỡng chế thi hành án đối với nhà và đất tại số nhà F ngõ A, đường T thuộc khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố M đã giao nhà và đất cho ông Phạm Xuân T2 đã tự ý chuyển đồ đạc vào nhà của ông T2 sinh sống không được sự đồng ý của chủ sở hữu hợp pháp ngôi nhà, sự việc diễn ra gây mất trật tự, an ninh trong khu vực đông dân cư, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện đến cùng. Do vậy hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội: "Xâm phạm chỗ ở của người khác" theo quy định tại Điều 158 của Bộ luật Hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 158 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thể hiện bị cáo coi thường quyền về chỗ ở của người khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo cùng gia đình đã mua lại tài sản, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bản thân bị cáo hiện đang bị bệnh về tim mạch phải điều trị ngoại trú và có sự theo dõi của cơ sở y tế, sinh hoạt phải có người trợ giúp do vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái áp dụng tình tiết khắc phục hậu quả do em trai bị cáo đã mua lại ngôi nhà mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc em trai bị cáo mua lại ngôi nhà không thuộc trường T4 khắc phục hậu quả, bởi lẽ tình tiết khắc phục hậu quả chỉ áp dụng đối với các vụ án có thiệt hại xảy ra, trong vụ án này bị cáo trong quá trình ở trái phép tại nhà ông T2 chưa gây thiệt hại gì về tài sản, hơn nữa khách thể xâm phạm đối với tội này là quyền hợp pháp về chỗ ở. Do vậy không chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái về áp dụng dụng tình tiết khắc phục hậu quả thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
[8] Sau khi xem xét nhân thân, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, đánh giá tính chất vụ án, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa bao giờ bị kết án, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo đang bị bệnh phải theo dõi ngoại trú tại cơ sở y tế nên có đủ điều kiện cho các bị cáo được hưởng án treo.
[9] Về phần dân sự: đối với chiếc khóa của ông T2 mà bị cáo L đã làm mất có giá trị không lớn, ông T2 không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xét.
[10] Đối với Bùi Thị L1, Nguyễn Thị H2 có hành vi ngăn cản việc tháo dỡ, sửa chữa nhà của ông T2, tuy nhiên do bà L1 và bà H3 được bị cáo L nhờ trông nhà giúp nghĩ rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên Bùi Thị L, mặt khác bà L1 và bà H3 không cùng thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo L nên không xét.
[11] Đối với cháu Nguyễn Ánh D thỉnh thoảng đến nhà của Bùi Thị L, mục đích thăm nom; cháu Bùi Khuẩy C sinh năm 2007, sinh sống với Bùi Thị L tại nhà của ông T2, khi chưa đủ 16 tuổi, sống lệ thuộc, nên không xét.
[12] Về án phí: bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 158; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị L phạm tội: “Xâm phạm chỗ ở của người khác"
Xử phạt bị cáo Bùi Thị L: 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Bùi Thị L cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi Hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Hủy bỏ Quyết định bảo lĩnh số: 03/2024/HSST-QĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 59/2024/QĐ-TA ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đối với bị cáo
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Nga |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về xâm phạm chỗ ở của người khác
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm chỗ ở của người khác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Loan - Xâm phạm chỗ ở của người khác
