|
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 09/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Sân
Ông Hoàng Quang Vinh
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hóa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Lò Phương Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 25/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 22/4/1974;Tại: T, Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Lò Văn M (Đã chết); con bà: Mào Thị T1 (Đã chết); gia đình bị cáo có 06 anh em ruột. Bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Lò Thị L, sinh năm 1976, con: có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: không; tiền sự: Không. Về nhân thân: Nhân thân: Ngày 17/11/2020, Lò Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38; điểm a, c khoản 1, 2 điều 47 BLHS xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 19/02/2022 Lò Văn T chấp hành xong án phạt tù và nghĩa vụ dân sự. Đến thời điểm phạm tội ngày 09/5/2024, bị cáo đã được xóa án tích theo quy định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Thị L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
1. Anh Lò Văn C, sinh năm 1994, địa chỉ: bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do)
2. Anh Quàng Văn N, sinh năm 1995, cùng trú tại bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, Lò Văn T sinh ngày 22/4/1974, trú tại bản Nà Hum, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu, một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 618.34 (xe mô tô là tài sản chung của Lò Văn T và Lò Thị L, sinh năm 1976, trú tại bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu) đi từ nhà đến chợ thị trấn T để tìm mua Heroine về sử dụng và bán kiếm lời, khi đi đến bản H, thị trấn T, T gặp một người đàn ông tên H (T không biết nhân thân, lai lịch). Qua trao đổi, T mua được của H 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng, vặn xoắn một đầu với số tiền 400.000 đồng. Mua được H1, T cầm trong tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn H đi đâu, làm gì T không biết. Về đến nhà, T dùng lưỡi dao lam chia gói ma túy thành 05 gói, trong đó 04 gói được bọc bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ, đựng trong túi ni lông loại túi zip màu xanh đỏ, cất giấu dưới đệm ngồi thứ nhất và 01 gói được bọc bởi mảnh ni lông màu trắng, vặn xoắn một đầu cất giấu dưới đệm ngồi thứ bảy từ trên xuống của chồng đệm 12 cái đặt trên sàn nhà tầng 2. Mục đích để Lò Văn T sử dụng và bán kiếm lời.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, Lò Văn T tách lấy một ít Heroine từ gói ma túy được bọc bằng mảnh nilon màu trắng, đặt trên bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, còn gói ma túy ban đầu Thóm cất lại vị trí cũ. Lúc này Lò Văn C, sinh năm 1994, trú tại bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu đến nhà T hỏi mua Heroine với số tiền 100.000 đồng, T đồng ý bán và đưa cho C 01 gói Heroine, được bọc bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ. Sau đó, T cất tiền vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi lên tầng 2 nhà sàn, còn Lò Văn C đi ra ngoài gặp Quàng Văn N, sinh năm 1995, cùng trú tại bản N, xã B, huyện T, đang đứng ở ngoài đường đợi thì bị Công an xã B, huyện T phát hiện, thu giữ gói Heroine C đang tàng trữ, căn cứ lời khai của Lò Văn C, Công an xã B đã đưa Lò Văn C, Quàng Văn N cùng gói Heroine vừa thu giữ vào nhà Lò Văn T để làm rõ hành vi. Lúc này, Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự giác giao nộp số tiền 100.000 đồng do bán Heroine cho C mà có; 01 (một) cục H2 và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng đốt dính muội than màu đen để trên bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; 01 bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; 07 mảnh giấy bạc; 04 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, 01 dao lam.
Ngày 10/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn T, kết quả: Thu giữ 03 gói Heroine được bọc bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ, đựng trong túi ni lông loại túi zip màu xanh đỏ cất giấu dưới đệm ngồi thứ nhất; 01 gói được bọc bằng mảnh ni lông màu trắng, vặn xoắn một đầu cất giấu dưới đệm ngồi thứ bảy từ trên xuống của chồng đệm 12 cái đặt trên sàn nhà tầng 2. Đây là số Heroine Thóm cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời.
Kết luận giám định số: 29/KLGĐ, ngày 10/5/2024 của giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T trong quá trình bắt người phạm tội quả tang có khối lượng là: 0,01 gam.
Kết luận giám định số: 558/GĐ-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đối với số chất bột màu trắng thu của Lò Văn T trong quá trình bắt người phạm tội quả tang, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Kết luận giám định số: 30/KLGĐ, ngày 10/5/2024 của giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T trong quá trình khám xét trong mỗi gói có khối lượng là: Ở phong bì niêm phong thứ nhất: Gói chất bột màu trắng có khối lượng 0,21 gam. Ở phong bì niêm phong thứ hai: Gói 1 có khối lượng 0,07 gam; Gói 2 có khối lượng 0,04 gam; Gói 3 có khối lượng 0,03 gam. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T trong quá trình khám xét có tổng khối lượng là: 0,35 gam.
Kết luận giám định số: 556/GĐ-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đối với số chất bột màu trắng thu của Lò Văn T trong quá trình khám xét, kết luận: 04 (bốn) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M4) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Kết luận giám định số: 31/KLGĐ ngày 10/5/2024 của giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn C và Quàng Văn N có khối lượng là: 0,03 gam.
Kết luận giám định số: 559/GĐ-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đối với số chất bột màu trắng thu của Lò Văn C, Quàng Văn N, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Bản cáo trạng số 39/CT-VKSTĐ, ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị L trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 618.34 là tài sản chung của chị Lò Thị L và bị cáo T. Khi bị cáo T lấy xe đi đâu làm gì chị L không biết, nay chị L không có ý kiến gì về chiếc xe trên. Ngoài ra, không có yêu cầu gì thêm
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, vỏ các phong bì niêm phong ban đầu, các mảnh giấy, mảnh ni lông, túi zip gói chất bột màu trắng ban đầu; 01 (một) bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; 08 (tám) mảnh giấy bạc; 04 (bốn) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 (một) dao lam; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu xanh – đen, mang BKS: 25B1-618.34 (xe cũ đã qua sử dụng) và 100.000 đồng thu giữ của Lò Văn T. Bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Lò Văn T không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Lò Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại nơi ở của mình thuộc bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn T đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,03 gam cho Lò Văn C với số tiền 100.000 đồng. Ngoài ra, Lò Văn T còn cất giấu trái phép 0,36 gam Heroine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa kịp thực hiện thì bị tổ công tác công an xã B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Như vậy, Lò Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,39 gam Heroine.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Lò văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy và đi chấp hành án, chịu sự giáo dục nghiêm khắc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số; bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn M được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đối với 0,01 gam Heroine thu giữ của Lò Văn T trong quá trình bắt người phạm tội quả tang; 0,03 gam Heroine thu giữ của Lò Văn C và Quàng Văn N đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật; đối với 0,35 gam Heroine thu giữ của Lò Văn T trong quá trình khám xét đã trích 0,24 gam làm mẫu vật gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 0,11 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, vỏ các phong bì niêm phong ban đầu, các mảnh giấy, mảnh ni lông, túi zip gói chất bột màu trắng ban đầu; 01 (một) bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; 08 (tám) mảnh giấy bạc; 04 (bốn) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 (một) dao lam là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu xanh – đen, mang BKS: 25B1-618.34 (xe cũ đã qua sử dụng) thu giữ của Lò Văn T là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Lò Văn T. Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tiền do bị cáo Lò Văn T thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[6] Những vấn đề liên quan:
Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Lò Văn T vào ngày 09/5/2024 tại bản Hô Ta, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Do nhân thân lai lịch của người đàn ông này không rõ ràng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý.
Đối với Lò Văn C và Quàng Văn N: Ngày 09/5/2024, Lò Văn C và Quàng Văn N cùng nhau góp tiền mua 0,03 gam Heroine của Lò Văn T, mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã B, huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ. Kết quả điều tra xác định, Lò Văn C và Quàng Văn N không có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy; do vậy hành vi của Lò Văn C và Quàng Văn N không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 21/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn C và Quàng Văn N bằng hình thức phạt tiền.
Kết quả điều tra xác định, khi Lò Văn T sử dụng xe mô tô để làm phương tiện phạm tội Lò Thị L không biết, do đó Lò Thị L không đồng phạm với Lò Văn T.
[7] Án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn T 34 (Ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/5/2024.
- Về vật chứng của vụ án:
- Về án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, vỏ các phong bì niêm phong ban đầu, các mảnh giấy, mảnh ni lông, túi zip gói chất bột màu trắng ban đầu; 01 (một) bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; 08 (tám) mảnh giấy bạc; 04 (bốn) mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 (một) dao lam.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 100.000 đồng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu xanh – đen, mang BKS: 25B1-618.34 thu giữ của Lò Văn T.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 50 phút ngày 05/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
