|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày: 05 – 8 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thanh
- Ông Hồ Thanh Trí
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Nhật Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang và điểm cầu thành phần đặt tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1968 tại huyện T, thành phố Cần Thơ; tên gọi khác: không; nơi thường trú: không, nơi tạm trú: không, nơi ở hiện tại: sống lang thang tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Trần Thị S (chết); bị cáo có vợ tên Phạm Thị P và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án: 01 tiền án, theo bản án số 08/2018/HS-ST ngày 28/3/2018 bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa chấp hành xong án phí và trách nhiệm dân sự); tiền sự: không; nhân thân: theo bản án số 31/2009/HSST ngày 17/9/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang phạt 09 năm tù tội Giết người; bị cáo bị tạm giữ ngày 09/4/2024 đến ngày 11/4/2024 chuyển sang biện pháp tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa (tại điểm cầu thành phần).
- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàn S1, sinh năm: 1978, tên gọi khác: Đen, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang tham gia tại điểm cầu thành phần Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị C, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Đặng Quốc T, sinh năm: 1979, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Út N, sinh năm: 1984, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:
- Ông Trần Minh M – Thẩm phán Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Nguyễn Quốc T1 – Nhân viên hợp đồng Bảo vệ Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Nguyễn Văn S2 – Cán bộ phụ trách Văn hoá - Xã hội của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 08/4/2024 Nguyễn Thanh V là người không có nơi thường trú, tạm trú nhất định, sống dưới ghe lang thang bằng nghề lao động tự do tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến nhà Đặng Quốc T (là người làm chứng trong vụ án) để uống rượu cùng T và vợ T là Út N (là người làm chứng trong vụ án), nhà T và N thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Sau khi uống hết 01 (một) lít rượu, Nguyễn Hoàng S3 đưa cho bị cáo V số tiền 20.000 đồng để đi mua rượu, đi được một đoạn thì V đánh rơi mất tiền nên quay lại địa điểm nhậu nói cho những người nhậu chung biết việc đánh rơi mất tiền. Nguyễn Hoàn S1 bực tức nhưng vẫn tiếp tục đưa cho V số tiền 20.000 đồng để đi mua rượu tiếp. Sau khi V mua rượu về, bốn người tiếp tục ngồi uống rượu với nhau, khi ngồi nhậu bị hại S1 ngồi cạnh bên trái của V, S1 nghi ngờ V cố tình giấu 20.000 đồng nên có lời lẻ chửi V, bức xúc vì bị chửi, V dùng dao Thái Lan chuẩn bị sẵn cầm tay trái (tay thuận của V) quay về phía S1 ngồi đâm đại không chủ ý vào người S1 nhiều nhát. Lúc này được vợ chồng ông T, bà N can ngăn, S1 sau đó được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đ. Bị cáo V sau đó mang dao đã gây thương tích cho Nguyễn Hoàng S3 đến Công an đầu thú.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 183/KLTTCT-TTPYCT ngày 10/4/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố C thể hiện:
- Các kết quả chính: Vết thương ở vùng ngực trước xương ức, vết thương ở vùng bụng lệch trái, vết thương kèm xước da ở vùng hong - hố chậu phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay trái và 03 vết xước da ở lòng bàn tay trái đã được điều trị. Hiện tại các vết thương và vết xước da đang lành, không ảnh hưởng chức năng.
- Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Hoàn S1 tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tỷ lệ phần trăm của từng vết thương:
- Vết thương ở vùng ngực trước xương ức hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương ở vùng bụng lệch trái hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương kèm xước da ở vùng hông hố chậu phải hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay phải hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay trái hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- 03 (ba) vết xước da ở lòng bàn tay trái do chưa lành nên chưa có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Vật gây thương tích:
- Vết thương ở vùng ngực trước xương ức, vết thương ở vùng bụng lệch trái phù hợp với cơ chế do vật sắc nhọn gây ra;
- Vết thương kèm xước da ở vùng hong - hố chậu phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay trái và 03 vết xước da ở lòng bàn tay trái phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.
- Cơ chế hình thành vết thương:
Do tại thời điểm giám định các vết thương của ông Nguyễn Hoàn S1 đã được xử lý trong quá trình điều trị nên không đủ cơ sở khoa học để xác định chiều hướng hình thành vết thương.
Tại Kết luận giám định số 2513/KL-KTHS, ngày 24/5/2024 của Phân viện KHHS tại TP . - Bộ C1 kết luận: Trên mẫu tăm bông, lưỡi dao gửi giám định đều có dính máu người. Phân tích ADN từ các mẫu máu này được cùng một kiểu gen nam giới và trùng với kiểu gen của Nguyễn Hoàn S1.
+ Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, sọc xanh, bằng vải;
- 01 (một) chiếc dép bằng nhựa, màu đen;
- 01 (một) dao Thái Lan tổng có chiều dài 26cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, sắc bén một bề, nơi rộng nhất 4cm, trên lưỡi dao có 08 lỗ hình tròn, mũi dao nhọn, cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 11cm; tất cả đều đã qua sử dụng có dính vết màu đỏ, nghi là máu.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-HCTA, ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố Nguyễn Thanh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi luận tội, phân tích, nhận xét, đánh giá và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thanh V mức án 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
Về trách nhiệm dân sự: tại phiên toà bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, sọc xanh, bằng vải; 01 (một) chiếc dép bằng nhựa, màu đen; 01 (một) dao Thái Lan tổng có chiều dài 26cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, sắc bén một bề, nơi rộng nhất 4cm, trên lưỡi dao có 08 lỗ hình tròn, mũi dao nhọn, cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 11cm; tất cả đều đã qua sử dụng.
Tại phiên toà bị hại S1 trình bày: về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý bị cáo V theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xem hợp pháp.
[2] Xét về tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghiã vụ liên quan Nguyễn Thị C, vắng mặt người làm chứng Đặng Quốc T, Nguyễn Thị Út N. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra người này đã có cung cấp lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.
[3] Xét về trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh V thừa nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: tối ngày 08/4/2024 tại nhà ông T bà N thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang có 04 người nhậu chung gồm ông T, bà N và bị cáo V, bị hại S1. Tại đây, xuất phát từ việc S1 đưa tiền bị cáo V đi mua rượu nhưng V làm rơi mất, tiếp đến S1 đưa tiền cho bị cáo V đi mua rượu về rồi cùng ngồi nhậu tiếp, trong lúc nhậu do bực tức việc bị cáo V đánh mất tiền nên S1 có lời lẽ chửi bị cáo V, bị cáo V bị chửi nên tức giận và nổi tính cồn đồ đã dùng tay trái lấy dao chuẩn bị sẵn trong thắt lưng quần của bị cáo, trong tư thế ngồi, vị trí ngồi bên phải của bị hại S1, cầm dao tay trái và quay về hướng bị hại S1 đâm đại không có chủ ý nhiều nhát vào người bị hại S1, thì được ông T bà N can ngăn, sau đó nhận thấy hành vi là có tội nên bị cáo V đi đến Công an đầu thú, bị hại S1 sau đó được người thân chở lên Bệnh Viện Đ khám và điều trị về trong ngày 09/4/2024.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 183/KLTTCT-TTPYCT ngày 10/4/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố C thể hiện:
- Các kết quả chính: Vết thương ở vùng ngực trước xương ức, vết thương ở vùng bụng lệch trái, vết thương kèm xước da ở vùng hong - hố chậu phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay trái và 03 vết xước da ở lòng bàn tay trái đã được điều trị. Hiện tại các vết thương và vết xước da đang lành, không ảnh hưởng chức năng.
- Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Hoàn S1 tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Tỷ lệ phần trăm của từng vết thương:
- Vết thương ở vùng ngực trước xương ức hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương ở vùng bụng lệch trái hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương kèm xước da ở vùng hông hố chậu phải hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay phải hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay trái hiện tại đang lành, không ảnh hưởng chức năng, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- 03 (ba) vết xước da ở lòng bàn tay trái do chưa lành nên chưa có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
- Vật gây thương tích:
- Vết thương ở vùng ngực trước xương ức, vết thương ở vùng bụng lệch trái phù hợp với cơ chế do vật sắc nhọn gây ra;
- Vết thương kèm xước da ở vùng hong - hố chậu phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay phải, vết thương ở mặt trước 1/3 trên cánh tay trái và 03 vết xước da ở lòng bàn tay trái phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.
- Cơ chế hình thành vết thương:
Do tại thời điểm giám định các vết thương của ông Nguyễn Hoàn S1 đã được xử lý trong quá trình điều trị nên không đủ cơ sở khoa học để xác định chiều hướng hình thành vết thương.
Tại Kết luận giám định số 2513/KL-KTHS, ngày 24/5/2024 của Phân viện KHHS tại TP . - Bộ C1 kết luận: Trên mẫu tăm bông, lưỡi dao gửi giám định đều có dính máu người. Phân tích ADN từ các mẫu máu này được cùng một kiểu gen nam giới và trùng với kiểu gen của Nguyễn Hoàn S1.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thanh V thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong khi nhậu đã dùng sao sắc bén là hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, thương tích gây nên cho bị hại S1 theo phương pháp tính cộng dồn Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y là 5%. Căn cứ vào hành vi dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ và tỷ lệ tổn thương cơ thể gây nên cho bị hại đã thoả mãn định khung hình phạt tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố bị cáo để xét xử về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo còn 01 tiền án chưa được xoá nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, còn 01 tiền án chưa được xoá, nhân thân xấu; tính chất, mức độ, hành vi gây nên cho sức khỏe người khác, tính nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải nghiêm trị, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điền kiện, giám sát, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.
[7] Xét về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng thiệt hại là 1.500.000 đồng, tại phiên toà bị hại tự nguyện không yêu cầu nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, sọc xanh, bằng vải; 01 (một) chiếc dép bằng nhựa, màu đen; 01 (một) dao Thái Lan tổng có chiều dài 26cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, sắc bén một bề, nơi rộng nhất 4cm, trên lưỡi dao có 08 lỗ hình tròn, mũi dao nhọn, cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 11cm đã qua sử dụng là vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
[9] Đối với người chăm sóc bị hại S1 trong ngày đi bệnh viện là mẹ ruột tên Nguyễn Thị C, quá trình điều tra bà C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì nên không xem xét.
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào các Điều 292, 293, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Thanh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024. Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, sọc xanh, bằng vải của bị hại; 01 (một) chiếc dép bằng nhựa, màu đen; 01 (một) dao Thái Lan tổng có chiều dài 26cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15cm, sắc bén một bề, nơi rộng nhất 4cm, trên lưỡi dao có 08 lỗ hình tròn, mũi dao nhọn, cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 11cm đã qua sử dụng.
- Về án phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 05/8/2024; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo bản án này đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tâm |
Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 49/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội, xử phạt 01 năm 06 tháng tù
