Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-PT

Ngày: 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Thắng và bà Nguyễn Thuý Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và tại điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến- Trại tạm giam Công an tỉnh Q, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Bích d có kháng cáo của bị hại anh Vũ Văn Đ và chị Đoàn Thị Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Trần Thị B, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1992 tại tỉnh Hưng Yên.

Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức T và bà Trần Thị V; chồng: Vũ Trọng Q1, có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1984 và chị Đoàn Thị Q, sinh năm 1988

Cùng cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: ông Nguyễn Văn Đ1 - Luật sư Văn phòng L1 và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

- Những người tiến hành tố tụng hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

+ Ông Phạm Thăng L - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

+ Ông Nguyễn Đức B1- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2021 đến tháng 02/2022 Trần Thị B trực tiếp vay của chị Đoàn Thị Q số tiền 320.000.000 đồng, không cầm cố, thế chấp tài sản gì và vay của anh Vũ Văn Đại s tiền 86.000.000 đồng. Khi vay tiền của anh Đ, B đưa cho anh Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 313220 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 11/6/2021 cho Trần Thị B là căn hộ 1720 tòa B chung cư G, phường H, B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (viết tắt Giấy chứng nhận căn hộ 1720) thế chấp để làm tin nhưng thực tế Bích không sở hữu căn hộ 1720 và Giấy chứng nhận căn hộ 1720 Bích đưa cho anh Đ là giả, do B liên hệ với 01 người không rõ lai lịch địa chỉ trên mạng xã hội Facebook rồi cung cấp thông tin cho người đó làm giả vào tháng 12/2021 với giá 4.500.000 đồng, mục đích để lừa đảo chị Q, anh Đ làm tài sản thế chấp vay tiền. Vì vậy, sau khi nhận được Giấy chứng nhận căn hộ A, B mang đến nhà đưa cho anh Đ xem để anh Đ tin tưởng là B có căn hộ 1720 và thế chấp Giấy chứng nhận căn hộ này cho anh Đại để vay tiền. Do tin tưởng, anh Đ đã vay của bà Phạm Thị M (mẹ đẻ anh Đ) 80.000.000 đồng và bỏ ra 6.000.000 đồng của mình để đưa cho B vay.

Bản kết luận giám định số 300/KL-KTHS ngày 15/03/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu in, chữ ký mang tên “Nguyễn Việt H” và hình dấu “ỦY BAN NHÂN DÂN TP HẠ LONG T.QUẢNG NINH” của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 313220 không cùng với mẫu in, mẫu chữ ký, mẫu dấu đối với mẫu so sánh là 03 (ba) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 983111, CO 000375, CU 933325 do Văn Phòng đăng ký quyền sử dụng đất T.

Tại Cơ quan điều tra Trần Thị B khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, B khai: Từ cuối tháng 12/2021 B đã vay chị Q nhiều lần với tổng số tiền là 320.000.000 đồng, các lần vay này đều viết giấy vay nợ để làm tin. Do nợ tiền của chị Q, nhiều lần chị Q đòi tiền nên B này sinh ý định làm già Giấy chứng nhận căn hộ 1720 để đưa cho chị Q, anh Đ làm tin vay thêm tiền nên đến ngày 08/02/2022, B đưa Giấy chứng nhận căn hộ 1720 cho anh Đại để thế chấp vay 86.000.000 đồng; không sử dụng Giấy chứng nhận căn hộ trên để thế chấp vay tiền của ai khác. Số tiền B vay của chị Q, anh Đ, B sử dụng để đầu tư chứng khoán và chơi tiền ảo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 13/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1; Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Thị B 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 27 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 63 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/9/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/5/2024 bị hại anh Vũ Văn Đ và chị Đoàn Thị Q làm đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử tăng khung hình phạt và tăng mức hình phạt đối với bị cáo B về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị hại anh Vũ Văn Đ và Chị Đoàn Thị Q giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quan điểm: trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có một số vi phạm thủ tục tố tụng kiến nghị cơ quan điều tra thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại phải là 406 triệu đồng chứ không phải 86 triệu như bản cáo trạng đã kết luận và bản án sơ thẩm đã xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử tăng khung hình phạt đối với bị cáo B lên khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tăng mức hình phạt đối với bị cáo B về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp đơn kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị hại anh Vũ Văn Đ và chị Đoàn Thị Q làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Thị B khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu; bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng, không oan. Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của bị cáo B phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị B bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị hại.

Tại đơn tố giác đề ngày 14/01/2023 của chị Đoàn Thị Q (BL 426- 427) gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q có nội dung: chị và Trần Thị B có quan hệ họ hàng, dựa trên sự tin tưởng chị đã cho cho chị B vay nhiều lần với tổng số tiền là 406.000.000 đồng, các lần vay đều viết giấy vay nợ, cụ thể như sau: ngày 29/12/2021, chị cho B vay 02 lần, lần một vay 20.000.000 đồng, lần hai vay 30.000.000 đồng; ngày 02/01/2022, chị cho B vay 03 lần: lần một cho vay là 40.000.000 đồng, lần hai cho vay 20.000.000 đồng, lần ba cho vay 50.000.000 đồng; ngày 04/01/2022 cho vay 160.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền chị cho B vay có viết giấy vay nợ là 320.000.000 đồng; ngày 06/01/2022 chị cho B vay 86.000.000 đồng không viết giấy vay nợ.

Tuy nhiên sau đó tại đơn kiến nghị và đơn đề nghị khởi tố và kiểm sát điều tra đề ngày 18/01/2023, chị Q đã khai lại lần cho B vay số tiền 86.000.000 đồng là ngày 27/12/2021 chứ không phải là ngày 06/01/2021 như đơn tố giác ban đầu.

Tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, chị Q và anh Đ đều khai: từ ngày 27/12/2021 chị và anh Đ đã cho B vay nhiều lần, tổng cộng là 406.000.000 đồng. Lân cho vay đầu tiên là ngày 27/12/2021 cho B vay 86.000.000 đồng, khi cho vay số tiền này B thế chấp Giấy chứng nhận căn hộ 1720 để làm tin nên và khi cho B vay thì có cả anh Đ chị Q ở nhà nên chị Q không viết giấy vay nợ (thời điểm này anh chị không biết Giấy chứng nhận căn hộ 1720 là giấy tờ giả), chính vì có thế chấp Giấy chứng nhận căn hộ 1720 nên những lần sau đó anh chị đã tin tưởng cho B vay thêm nhiều lần với tổng số là 320.000.000 đồng, những lần vay sau này chị Q đều viết giấy vay nợ.

Bị cáo Trần Thị B khai: từ cuối tháng 12/2021 đến đầu tháng 02/2022 đã vay của chị Q và anh Đ nhiều lần, trong đó số tiền vay 320.000.000 đồng là vay làm nhiều lần, mỗi lần đều viết giấy vay nợ và không dùng tài sản gì để thế chấp khi vay; riêng lần vay số tiền 86.000.000 đồng, bị cáo đã thế chấp vợ chồng anh chị Quý Đại 01 Giấy chứng nhận căn hộ 1720 để làm tin, bị cáo B khẳng định lần vay 86.000.000 đồng này là lần vay sau cùng vào ngày 08/02/2022 và lần vay này chị Q có viết giấy vay nợ, bị cáo không được giữ giấy vay nợ này mà chị Q giữ.

Từ các tài liệu, chứng cứ được viện dẫn ở trên cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: lời khai của bị hại về ngày vay số tiền 86.000.000 đồng là không thống nhất, ngoài những lời khai trình bày của bị hại không có tài liệu nào xác định ngày bị hại cho bị cáo B vay số tiền 86.000.000 đồng là vào ngày 27/12/2021; đối với lời khai của bị cáo B, bị cáo khai vay số tiền này vào ngày 08/02/2022, nhưng đây cũng chỉ là lời khai của bị cáo ngoài ra cũng không có tài liệu nào xác định bị cáo B vay số tiền 86.000.000 đồng vào ngày 08/02/2022.

Vì vậy không đủ cơ sở để xác định chị Q anh Đ cho bị cáo B vay số tiền 86.000.000 đồng có thế chấp Giấy chứng nhận căn hộ 1720 là vào ngày nào, các tài liệu thu thập được chỉ đủ cơ sở xác định số tiền do B dùng Giấy chứng nhận căn hộ 1720 giả để lừa đảo chiếm đoạt của anh Đ, chị Q là 86 triệu đồng; còn số tiền 320 triệu đồng Bích vay của anh chị Quý Đại chỉ là quan hệ dân sự vay tiền giữa vợ chồng chị Q và B.

Do đó Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật, nên cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị hại được.

[4] Về án phí: bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại (anh Vũ Văn Đ và Chị Đoàn Thị Q), giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Thị B 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 63 (sáu mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/9/2023.

Căn cứ: khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Trần Thị B phải trả lại cho anh Vũ Văn Đ và chị Đoàn Thị Q số tiền là 86.000.000đồng.

Kể từ ngày bên đương sự được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong nếu bên phải thi hành án không trả đủ số tiền phải thanh toán thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CA, VKS, TAND, Chi cục THADS
  • huyện Tiên Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hô sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 49/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Trần Thị Bích 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 02 tội là 63 (sáu mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/9/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger