|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2024 V/ v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải
Bà Hà Thị Dung
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Chị Lê Thị Vân A, sinh năm 1999.
Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
-
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc A1, Luật sư, Công ty L và Cộng sự.
-
- Anh Kim Hyung P, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số 108, đường Goorojungang, quận Gooro, thành phố Seoul, Hàn Quốc
Quốc tịch: Hàn Quốc (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị Vân A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 11/07/2018 chị và anh Kim Hyung P (Sinh năm: 1972; Nơi cư trú: Số nhà D, Y-ri, Samho-eup, Yeongam-gun, J-do, Hàn Quốc) tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 16. Sau khi kết hôn xong, vợ chồng sinh sống cùng nhau tại nhà mẹ đẻ của chị là bà Lê Thị T (sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Hai vợ chồng ở cùng nhau được khoảng một tháng (đến tháng 8 năm 2018), do bất đồng ngôn ngữ, bất đồng về văn hóa nên anh Kim Hyung P bỏ về Hàn Quốc sinh sống. Anh chị ly thân từ đó đến nay. Đến giữa năm 2020, chị chuyển đến ở tại địa chỉ: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đề sinh sống và làm việc.
Sau một thời gian suy nghĩ, chị thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, cả hai đều không còn tình cảm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Chị xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Kim Hyung P.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung;
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Kim Hyung P: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam đã thực hiện ủy thác tư pháp hồ sơ dân sự đến cơ quan có thẩm quyền theo Công văn số 03/TTTPHNGĐ-TA ngày 14/11/2022 để tống đạt văn bản tố tụng và thu thập ý kiến trình bày của bị đơn anh Kim Hyung P theo địa chỉ tại Hàn Quốc được nguyên đơn cung cấp cũng như địa chỉ có tại hồ sơ khi đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, ngày 21/4/2023 Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận được Công văn số 799/BTP-PLQT ngày 21/4/2023 của Bộ Tư pháp về kết quả ủy thác tư pháp cho bị đơn anh Kim Hyung P tại Hàn Quốc, theo đó không thực hiện được ủy thác tư pháp hồ sơ do địa chỉ không đầy đủ.
Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp lại địa chỉ chính xác, đầy đủ của bị đơn và tiếp tục thực hiện ủy thác tư pháp hồ sơ dân sự đến cơ quan có thẩm quyền theo Công văn số 06/TTTPHNGĐ-TA ngày 18/10/2023 để thu thập ý kiến trình bày của bị đơn anh Kim Hyung P.
Tại Văn bản số 2023-D-905 ngày 27/6/2024 của Cục Quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hàn Dân Quốc thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư tư pháp thu thập chứng cứ đối với anh Kim Hyung P theo địa chỉ tại Hàn Quốc: “ Tòa án quận phía Nam Seoul vào ngày 16/01/2024 đã có phiếu điều tra sự thật gửi anh Kim Hyung P, ngày 29/3/2024 có văn bản đốc thúc do chưa nhận được sự phản hồi của anh Kim Hyung P. Đến ngày 27/6/2024, Tòa án quận phía Nam Seoul có thư hồi đáp không thể thu thập ý kiến của anh Kim H Pyo do đương sự không thực hiện theo yêu cầu. Do vậy, việc thực hiện ủy thác tư pháp để lấy ý kiến của anh Kim H Pyo là không thể thực hiện được.
Tại phiên tòa xét xử công khai ngày hôm nay, nguyên đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên các quan điểm, ý kiến đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Kể từ thời điểm thụ lý giải quyết vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án đã tiến hành tống đạt theo địa chỉ hợp lệ của bị đơn qua hồ sơ đăng ký kết hôn và nguyên đơn cung cấp, nhưng việc ủy thác không thực hiện được. Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành ủy thác tư pháp lại theo địa chỉ mới của bị đơn do nguyên đơn cung cấp, tuy nhiên không thể thực hiện được do bị đơn không hợp tác. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại các Điều 474, 476, 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Vân A, cho chị Vân A được ly hôn với anh Kim Hyung P; Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Chị Vân A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng: Chị Lê Thị Vân A, quốc tịch: Việt Nam có địa chỉ thường trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, nước Việt Nam. Anh Kim Hyung P, quốc tịch: Hàn Quốc, địa chỉ cư trú: Số A, đường G, quận G, thành phố S, Hàn Quốc. Nên đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 464 và Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Kim Hyung P đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo thụ lý và thu thập chứng cứ qua địa chỉ Số A, đường G, quận G, thành phố S, Hàn Quốc là địa chỉ đã được nguyên đơn cung cấp bổ sung. Tuy nhiên không thể thực hiện được do bị đơn anh Kim Hyung P không hợp tác.
Căn cứ Điều 227, Điều 474, Điều 477 và Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử mở phiên toà xét xử vụ án và hoãn phiên toà lần thứ nhất vào ngày 20/5/2024, mở lại phiên tòa lần thứ hai vào ngày 20/6/2024. Do đó, tại phiên toà mở lần thứ ba hôm nay, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Kim Hyung P là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Chị Lê Thị Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
-
Về nội dung:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Vân A và anh Kim Hyung P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống cùng nhau được khoảng một tháng (đến tháng 8 năm 2018), do bất đồng ngôn ngữ, bất đồng về văn hóa nên anh Kim Hyung P bỏ về Hàn Quốc sinh sống, chị Vân A vẫn ở Việt Nam. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Xét khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân đã gần 06 năm, không còn mối quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình không đạt được, các bên không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A, cho chị Vân A được ly hôn với anh Kim Hyung P là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
-
Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết
-
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết
-
-
Án phí: Chị Vân A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp, chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật. Về chi phí tố tụng: Đã quyết toán xong.
-
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; Điều 37; Khoản 2 Điều 38; Điều 39; Điều 147; Điều 207; khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Vân A đối với anh Kim Hyung P.
-
Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Vân A được ly hôn với anh Kim H Pyo
-
Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết
-
Tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
-
Án phí: Chị Lê Thị Vân A phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000076 ngày 01/3/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Vân A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) về việc ủy thác thu thập chứng cứ lần 1, chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) về việc ủy thác tống đạt giấy tờ lần 1 và chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) chi phí thực tế ủy thác tư pháp ra nước ngoài lần 1 sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000188 ngày 08/10/2022, số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000189 ngày 08/10/2022 và số tiền 3.000.000đ tạm ứng chi phí đã nộp theo biên lai số 0000191 ngày 08/11/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Vân A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) về việc ủy thác tống đạt giấy tờ lần 2 và chịu 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) chi phí thực tế ủy thác tư pháp ra nước ngoài lần 2 sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000295 ngày 18/8/2023 và số tiền 3.000.000đ tạm ứng chi phí đã nộp theo biên lai số 0000296 ngày 18/8/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Lê Thị Vân A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, anh Kim Hyung P được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 49 VA KHP
