|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04 – 7 – 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Qui
Bà Lê Thị Diễm Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh năm: 1994 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn Th, sinh năm: 1992 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: Số 266/1, Pasteur, phường V, quận 3, thành phố H.
Địa chỉ: Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Th tự nguyện kết hôn vào năm 2012 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/11/2013.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chị T và anh Th đã ly thân kéo dài từ năm 2018 đến nay. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn Th.
Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Hiện con chung đang sống chung với gia đình của anh Th tại khu vực 5, phường Thuận An nên chị T đồng ý để anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn Th có lời trình bày:
Năm 2012 anh Th và chị T tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ. Do mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng nên anh Th đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.
Về con chung: Anh Th và chị T có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Hiện con chung đang sống chung với gia đình của anh Th nên anh Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc Quỳnh T. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T được ly hôn với anh Lê Văn Th. Về con chung: Anh Lê Văn Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Anh Th không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo luật định.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc quỳnh T và anh Lê Văn Th tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/11/2013 (nay là Ủy ban nhân dân phường Thuận An) nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
[3.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, chị T cho rằng trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống sống chung không hạnh phúc nên chị T và anh Th đã ly thân kéo dài từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn Th. Quá trình giải quyết vụ án anh Th đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.
Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T.
[3.3] Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Hiện con chung đang sống chung với gia đình của anh Th, cháu Ngọc Hân có nguyện vọng sống với anh Th, chị T và anh Th cùng thống nhất giao cháu Hân cho anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng.
Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện trên và tiếp tục giao cháu Lê Nguyễn Ngọc Hân cho anh Lê Văn Th tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Th không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T và anh Lê Văn Th không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T được ly hôn với anh Lê Văn Th. Giấy chứng nhận kết hôn số: 140/2013, ngày 05/11/2013 do Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường Thuận An, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Anh Lê Văn Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Anh Th không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T và anh Lê Văn Th không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0007755, lập ngày 04 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Chị Nguyễn Ngọc Quỳnh T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Tiến |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Th tự nguyện kết hôn vào năm 2012 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/11/2013. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được do đó chị T và anh Th đã ly thân kéo dài từ năm 2018 đến nay. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn Th. Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Hiện con chung đang sống chung với gia đình của anh Th tại khu vực 5, phường Thuận An nên chị T đồng ý để anh Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn Th có lời trình bày: Năm 2012 anh Th và chị T tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Mỹ. Do mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng nên anh Th đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. Về con chung: Anh Th và chị T có 01 con chung tên Lê Nguyễn Ngọc Hân (giới tính nữ), sinh ngày 16/3/2012. Hiện con chung đang sống chung với gia đình của anh Th nên anh Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
