TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 12 – 7 – 2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Đẹp
Bà Nguyễn Thị Nhàn
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 7 năm 2024 và ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 94/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy L, sinh năm 1974
Địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Trần Hữu P, sinh năm 1972
Địa chỉ: Số D, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ
Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh P
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Thùy L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L và anh P tìm hiểu thời gian khoảng 02 năm thì tiến đến hôn nhân, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 21/7/1997 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S. Chị L và anh P chung sống hạnh phúc đến năm 2020 có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tình tình không còn phù hợp, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Do đó, từ năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, hiện nay anh P cũng đang chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác và có con riêng.
Nay nhận thấy tình cảm không còn, chị L yêu cầu ly hôn anh P
- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Lê Huyền T, sinh năm 1997 và Trần Lê Ngọc H, sinh ngày 09/5/2004. Hai con chung đã trưởng thành có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị L không còn yêu cầu, ý kiến gì khác.
* Bị đơn anh Trần Hữu P: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, cho chị L và anh P ly hôn; Về con chung đã trưởng thành nên không xem xét; Về chia tài sản chung, nợ chung: Do đương sự trình bày không có nên không xem xét.
- Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
(Có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trên cơ sở Đơn khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn; Bị đơn anh Trần Hữu P cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Trần Hữu P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điểm b, Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét việc chị Lê Thị Thùy L yêu cầu ly hôn anh Trần Hữu P, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị L và anh P chung số vợ chồng từ năm 1997, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/7/1997 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Đ nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Sau kết hôn, chị L và anh P chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn phụ hợp, vợ chồng thường xuyên cự cãi. Cũng từ năm 2020 đến nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm lo lắng cho nhau.
Về phía anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết việc chị L yêu cầu ly hôn nhưng không có văn bản trình bày ý kiến. Bản thân anh P cũng không có mong muốn hàn gắn tình cảm với chị L nên đã không đến tham gia hòa giải, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình.
Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L và anh P đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm, vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Do đó, việc chị L yêu cầu ly hôn anh P là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về nuôi con chung: Chị L và anh P chung sống có 02 con chung tên Trần Lê Huyền T, sinh năm 1997 và Trần Lê Ngọc H, sinh năm 2004. Hai con đã trưởng thành, có khả năng lao động nuôi sống bản thân, chị L không tranh chấp yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Về án phí: Chị L nộp toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với những nhận định nêu trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Thùy L về việc xin ly hôn. Chị Lê Thị Thùy L và anh Trần Hữu P ly hôn.
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Trần Lê Huyền T, sinh năm 1997 và Trần Lê Ngọc H, sinh năm 2004. Hai con đã trưởng thành, có khả năng lao động nuôi sống bản thân, chị Lê Thị Thùy L không tranh chấp yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự trình bày không có nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị Thùy L nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị L đã nộp ngày 03/5/2024 theo biên lai thu số 0004152 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố S được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Hữu P vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị T1 |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bên a ly hôn bên b do mâu thuẫn
