|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HNGD – ST. Ngày: 10/9/2024 V/v: ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây .
Các hội thẩm nhân dân: Nguyễn Văn Hợi và ông Dương Viết Vĩnh
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, giải quyết con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QÐST - HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1987 (Có mặt).
- Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh
- - Bị đơn: Anh Dương Minh T, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Xóm P, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự trình bày như sau:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Dương Minh T kết hôn vào ngày 17/9/2012 trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới chị về nhà anh T1 làm dâu và sinh sống cùng bố mẹ chồng tại xã D, huyện P. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2013 khi chị C đang mang thai thì vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, có nhiều quan điểm trái ngược dẫn đến thường xuyên cãi vã, gây lộn. Anh T hay uống rượu rồi chửi bới và đe dọa chị dẫn đến việc chị C phải về nhà bố mẹ đẻ ở Bắc Ninh sinh sống. Gia đình hai bên đã giàn xếp, hòa giải nhưng không được, cuộc sống vợ chồng ngày càng ngột ngạt, không thể kéo dài thêm nữa và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013, anh T không hỏi thăm gì đến vợ con. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Minh T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Dương Minh Đ, sinh ngày 16/7/2013. Hiện nay cháu đang ở cùng chị ở Bắc Ninh, chị đang làm công nhân, có thu nhập hàng tháng khoảng 12 triệu đồng nên chị C mong muốn là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đ vì cháu còn nhỏ tuổi. Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay.
Bị đơn là anh Dương Minh T trình bày: Anh thừa nhận về thời gian kết hôn và thủ tục kết hôn như chị C trình bày là đúng, sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo anh, việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là không có gì lớn, vợ chồng anh sống ly thân hoàn toàn từ năm 2013 đến nay. Nguyên nhân chính là do chị C thường hay nói quá lên trước 1 sự việc, không hiểu anh. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn chị C suy nghĩ lại để vợ chồng về đoàn tụ cùng chăm sóc con, do đó anh không đồng ý ly hôn với chị C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Dương Minh Đ, sinh ngày 16/7/2013. Hiện nay cháu đang ở cùng chị C tại Bắc Ninh, sau khi khi hôn anh muốn nuôi cháu và không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tạo điều kiện cho các bên đương sự có thời gian để suy nghĩ, tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, với mục đích để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, chị C vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, anh T không đến Tòa án để hòa giải nên các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vì vậy, Tòa án phải quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Về sự có mặt của đương sự: Đối với bị đơn, anh Dương Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh T.
[2]. Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị C và anh Dương Minh T kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sau khi kết hôn một thời gian ngắn vợ chồng đã liên tục phát sinh mâu thuẫn dẫn đến hai bên đã sống ly thân từ năm 2013. Xét thấy mâu thuẫn của hai vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không còn tồn tại, phía anh T muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng lại không có hành động cụ thể thiết thực gì đối với vợ con. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C, cho chị C được ly hôn với anh Dương Minh T là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị C và anh Dương Minh T có 01 con chung là Dương Minh Đ, sinh ngày 16/7/2013. Quá trình giải quyết vụ án, cả chị C và anh T đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung. Tuy nhiên, hiện nay cháu Đ đang sinh sống từ khi mới sinh ra cùng với chị C, cháu có nguyện vọng muốn ở với mẹ; chị C có nơi ở và công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận lời đề nghị của chị C, giao con chung cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị C không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về quyền và nghĩa vụ thăm con sau ly hôn: anh T được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm. Vì lợi ích của con, chị C, anh T được quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Không có, hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy Ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị C, cho chị C được ly hôn anh Dương Minh T.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Minh Đ, sinh ngày 16/7/2013, cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về quyền và nghĩa vụ thăm con sau ly hôn: anh Dương Minh T được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở, ngăn cấm. Vì lợi ích của con, chị C, anh T được quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
- Về tài sản chung, khoản vay và cho vay: Hai bên đều xác định là không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003871 ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Thông báo quyền kháng cáo: Án xét xử công khai, có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn. Báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án đối với nguyên đơn; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị đơn./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồng Mây |
Bản án số 49/2024/HNGD – ST. ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 49/2024/HNGD – ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
