|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 – 7 – 2024 V/v Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hường
- Ông Phú Anh Lân
- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 10/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2024 về việc “Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Y, sinh 1978. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Thiên P, sinh 1972. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2024 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y trình bày:
Bà và ông Phan Thiên P chung sống với nhau tự nguyện từ năm 1999, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã, do không phù hợp về quan điểm sống, ông P dùng lời lẽ chửi bới xúc phạm bà và gia đình bà, bà có khuyên bảo nhưng ông P vẫn không thay đổi. Hiện vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau. Nay tình cảm của bà với ông P không còn, không thể hàn gắn, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà với ông P là vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung là cháu Phan Nhật Q, sinh 2000 đã trưởng thành và lao động tự túc được và cháu Phan Nhật Tú Q1, sinh 24/3/2009 (dưới 18 tuổi) hiện đang sống với bà, bà yêu cầu tiếp tục được trực tiếp nuôi cháu Q1, không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Thiên P trình bày:
Ông và bà Huỳnh Thị Y chung sống với nhau từ năm 1999, không đăng ký kết hôn do không hiểu biết pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhưng chưa đến mức trầm trọng. Nay bà Y khởi kiện yêu cầu không công nhận là vợ chồng ông không đồng ý vì ông còn thương yêu vợ con.
Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung như bà Y trình bày là đúng. Con chung Phan Nhật Q, sinh 2000 đã trưởng thành và lao động tự túc được, còn cháu Phan Nhật Tú Q1, sinh 24/3/2009 (dưới 18 tuổi) đang sống cùng ông bà. Trường hợp Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng thì tôn trọng ý kiến của cháu Q1, nguyện vọng muốn ở với ai thì người đó trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi không phải cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà Huỳnh Thị Y và ông Phan Thiên P chung sống với nhau từ năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, không quan tâm nhau. Việc sống chung với nhau giữa bà Y và ông P không đăng ký kết hôn đã không tuân thủ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên không có giá trị về mặt pháp lý. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu không công nhận vợ chồng của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y. Về con chung: Xét nguyện vọng cháu Q1 được sống với mẹ, nên giao cháu Q1 cho bà Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Y không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Huỳnh Thị Y khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng với ông Phan Thiên P trú tại thôn N, xã P, huyện N và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng” theo khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Nội dung khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Y và ông Phan Thiên P chung sống với nhau từ năm 1999 đến nay nhưng chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân ngày 24/10/2023 được UBND xã P xác nhận: “Bà Huỳnh Thị Y, sinh năm 1978, trú tại thôn N, xã P, huyện N, Ninh Thuận sống chung như vợ chồng với ông Phan Thiên P, sinh năm 1972 nhưng không có đăng ký kết hôn”.
Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn... “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.”.
Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”. Và tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Căn cứ theo quy định của pháp luật đã viện dẫn nói trên. Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Y và ông P.
Về con chung: Bà Huỳnh Thị Y và ông Phan Thiên P có hai người con chung là cháu Phan Nhật Q, sinh 2000 đã trưởng thành và lao động tự túc được và cháu Phan Nhật Tú Q1, sinh 24/3/2009. Xét nguyện vọng cháu Q1 được sống với mẹ nên giao cháu Q1 cho bà Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Y không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận đơn yêu cầu không công nhận vợ chồng của bà Y.
[3] Về án phí: Bà Y phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 15, khoản 2 Điều 53, Điều 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y.
- Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị Y và ông Phan Thiên P.
- Về con chung: Giao cháu Phan Nhật Tú Q1, sinh 24/3/2009 cho bà Huỳnh Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Y không yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Y phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001168, ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà Y đã nộp đủ án phí DSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Cường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) Lê Thị Hường Phạm Ngọc M |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Vũ Văn C |
Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về yêu cầu tòa án không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 49/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng
